Ngày xuất bản: 17-06-2026
Số báo đầy đủ
Công nghệ
Phát triển hệ thống robot di động giám sát môi trường đa tham số theo thời gian thực
Tóm tắt
|
PDF
Quá trình thiết kế và triển khai một hệ thống giám sát chất lượng không khí đa tham số theo thời gian thực, kết hợp giữa các cảm biến môi trường giá thành thấp và công nghệ truyền thông không dây được giới thiệu trong bài báo. Hệ thống được xây dựng trên nền tảng vi điều khiển, hỗ trợ thu thập, xử lý và truyền dữ liệu linh hoạt trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau, bao gồm không gian trong nhà nhiều vật cản và khu vực ngoài trời rộng mở. Các kết quả thử nghiệm thực tế cho thấy hệ thống đạt độ ổn định cao trong kết nối, tỉ lệ mất gói dưới 1%, khả năng hiển thị trực quan và đồng bộ dữ liệu lên máy chủ. Với kiến trúc mở và khả năng mở rộng linh hoạt, giải pháp này có tiềm năng ứng dụng trong các mô hình đô thị thông minh, khu công nghiệp và các hệ thống nông nghiệp chính xác tại Việt Nam và các quốc gia đang phát triển.
Thu nhận carrageenan từ rong sụn (Kappaphycus alvarezii) bằng phương pháp chiết có hỗ trợ của sóng siêu âm
Tóm tắt
|
PDF
Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng và tối ưu hóa quy trình chiết xuất carrageenan từ rong sụn Kappaphycus alvarezii bằng phương pháp chiết có hỗ trợ siêu âm (UAE). Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu và dung môi (1:50, 1:100, 1:120 w/v), nhiệt độ chiết (40–80°C) và thời gian chiết (30, 45, 60 phút) được đánh giá thông qua hiệu suất thu nhận và phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR). Kết quả cho thấy hiệu suất cao nhất (59,74 ± 8,15%) đạt được ở điều kiện 60°C, 30 phút với tỷ lệ 1:100 (w/v). Phân tích FTIR xác nhận đặc trưng cấu trúc của carrageenan, chứng minh rằng quy trình UAE tối ưu là phương pháp hiệu quả và phù hợp để thu nhận carrageenan với hiệu suất cao.
Ứng dụng điều khiển vô hướng vòng kín nâng cao cho động cơ không đồng bộ ba pha sử dụng các tốc độ ước tính
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, một phương pháp điều khiển vô hướng vòng kín cho động cơ không đồng bộ ba pha sử dụng bộ ước lượng RF-MRAS đã được trình bày. Từ tốc độ rôto ước tính và dòng điện trong hệ tọa độ α-β, góc từ thông rôto được xác định để tính tốc độ đồng bộ. Sai lệch giữa tốc độ đồng bộ và tốc độ rôto ước tính được đưa qua một hàm truyền nhằm lọc nhiễu, từ đó tạo ra tốc độ bù trượt để động cơ có thể vận hành đúng với tốc độ tham chiếu mà không cần hiệu chỉnh qua khâu PI. Hàm truyền này đóng vai trò như một bộ lọc nhiễu, giúp loại bỏ các thành phần tần số cao trong sai số giữa tốc độ đồng bộ và tốc độ rôto ước tính. Cấu trúc điều khiển được xây dựng và mô phỏng trên phần mềm MATLAB/Simulink. Kết quả cho thấy phương pháp đề xuất có khả năng bám tốc độ tham chiếu, đảm bảo hệ thống vận hành ổn định cũng như thời gian đáp ứng so với phương pháp truyền thống.
Tự nhiên
Dẫn xuất triterpene từ cây sắn thuyền Syzygium Resinosum (Gagnep.) Merr. et Perry
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích khảo sát thành phần hóa học để tìm cơ sở đánh giá tiềm năng ứng dụng y học và đóng góp thông tin vào cơ sở dữ liệu hóa thực vật của loài Sắn thuyền. Từ lá và cành của mẫu cây, bốn hợp chất terpenoid đã được phân lập và xác định bằng phương pháp sắc ký và phổ hiện đại, bao gồm acid ursolic, acid asiatic, acid oleanolic và acid terminolic.
Tối ưu quy trình trích ly polyphenol và flavonoid có hoạt tính kháng oxy hóa từ loài nắp ấm hoa đôi (Nepenthes mirabilis)
Tóm tắt
|
PDF
Nắp ấm hoa đôi (Nepenthes mirabilis) là loài dược liệu với hoạt tính sinh học đa dạng, đặc biệt là tiềm năng kháng oxy hóa. Trong nghiên cứu này, phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) theo mô hình Box-Behnken (BBD) đã được áp dụng nhằm tối ưu hóa quy trình trích ly cao chiết giàu polyphenol và flavonoid có hoạt tính kháng oxy hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy trình trích ly cao chiết với sự hỗ trợ của sóng siêu âm bằng dung môi ethanol sau hai lần chiết đã đạt được hiệu quả tối ưu. Cụ thể, tỷ lệ dung môi/bột dược liệu là 29,57 mL/g, nồng độ ethanol là 79,08%, nhiệt độ trích ly là 61,67℃ và thời gian trích ly là 29,49 phút. Kết quả thực nghiệm dưới với điều kiện này cho thấy, giá trị IC50 trung hòa gốc tự do DPPH là 24,12 ± 0,89 µg/mL, hàm lượng polyphenol và flavonoid lần lượt là 559,06 ± 2,43 mgGAE/g cao chiết và 611,73 ± 1,97 mgQE/g cao chiết.
Khảo sát hoạt tính tách nước điện hóa của vật liệu FeOOH trên nền thanh carbon
Tóm tắt
|
PDF
Hydro xanh (green hydrogen) được xem là một giải pháp tối ưu cho chu trình năng lượng bền vững thông qua quá trình điện phân nước sử dụng năng lượng tái tạo như gió và mặt trời. Trong hệ điện phân, điện cực đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất sinh hydro và oxy. Trong nghiên cứu này, vật liệu điện cực nano FeOOH trên nền thanh carbon (carbon rod - CR) được tổng hợp bằng phương pháp lắng đọng hóa học đơn giản. Ảnh hưởng của nồng độ tiền chất Fe(NO3)3 đến hoạt tính điện xúc tác FeOOH@CR đã được khảo sát trong nghiên cứu này. Ở nồng độ 0,20 M (0,20 FeOOH@CR), hoạt tính tốt nhất được ghi nhận, với quá thế cho phản ứng sinh hydro và oxy lần lượt là 340 và 516 mV tại 10 mA/cm2 trong KOH 1 M. Ngoài ra, vật liệu còn thể hiện độ bền xúc tác tốt cho cả hai phản ứng trong thời gian 12 giờ. Với ưu điểm nguyên liệu sẵn có và chi phí thấp, FeOOH@CR là vật liệu tiềm năng cho ứng dụng điện phân nước sản xuất hydro xanh.
Tối ưu thông số vận hành cho hệ chưng cất màng trực tiếp (DCMD) trong quá trình xử lý nước biển
Tóm tắt
|
PDF
Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt ở nhiều địa phương, đặt ra nhu cầu về giải pháp khử mặn hiệu quả, bền vững. Trong bối cảnh đó, công nghệ chưng cất màng (MD) được xem là giải pháp có nhiều tiềm năng cho chất lượng nước tốt và chi phí thấp nhờ tận dụng được năng lượng mặt trời và nhiệt thải. Tuy nhiên, thách thức còn nằm ở việc lựa chọn màng MD phù hợp và xác lập bộ thông số vận hành tối ưu để đồng thời đạt thông lượng và hiệu suất tách muối cao, ổn định. Do vậy, nghiên cứu này tập trung khảo sát có hệ thống hệ chưng cất màng trực tiếp (DCMD) sử dụng màng PVDF-MD tổng hợp bằng dung môi isoamyl alcohol, đánh giá ảnh hưởng của chênh lệch nhiệt độ, tốc độ dòng chảy ngang, nồng độ muối đầu vào và thời gian vận hành. Kết quả cho thấy điều kiện tối ưu ở 70°C (dòng nóng) và 25°C (dòng lạnh) với tốc độ dòng 0,33 m/s, đạt thông lượng 20,5 LMH và hiệu suất tách muối >99,9%, đồng thời hạn chế thấm ướt lỗ màng. Màng vẫn vận hành ổn định với dung dịch nước biển có nồng độ muối cao và sau 30 ngày xử lý nước biển thực, nước thấm duy trì đạt tiêu chuẩn nước uống.
Xây dựng mô hình chuỗi thời gian dựa vào sự cải tiến các mối quan hệ mờ và mô hình hồi quy vector hỗ trợ
Tóm tắt
|
PDF
Mô hình chuỗi thời gian được xây dựng trong nghiên cứu dựa trên sự cải tiến dữ liệu đầu vào cho một mô hình học máy. Đầu tiên, chuỗi nguồn được chia thành các chùm với một số lượng thích hợp và những phần tử trong mỗi chùm được xác định một cách tự động căn cứ vào mức độ biến động của chuỗi. Kết quả này sau đó được sử dụng để xây dựng các mối quan hệ mờ giữa mỗi phần tử và các chùm để từ đó xây dựng nguyên tắc mờ hóa chuỗi. Chuỗi mờ hóa này sau đó được sử dụng làm dữ liệu đầu vào để áp dụng mô hình hồi quy vector hỗ trợ. Kết hợp những cải tiến này, một mô hình dự báo mới đã được xây dựng. Áp dụng trên cổ phiếu Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang, mô hình đề nghị đã cho kết quả tốt, vượt qua nhiều mô hình khác, bao gồm các mô hình học máy và thống kê.
Phân tích chùm mờ cho dữ liệu ảnh dựa vào hàm mật độ xác suất đại diện được trích xuất từ mô hình Resnet50
Tóm tắt
|
PDF
Thuật toán phân tích chùm mờ cho dữ liệu ảnh được xây dựng với những giai đoạn chính sau: đầu tiên là việc trích xuất đặc trưng của ảnh bằng phương pháp học sâu Resnet50 với hai khối tích chập đầu tiên và quá trình gộp đặc trưng toàn cục. Các đặc trưng này sau đó được chuẩn hóa và ước lượng thành hàm mật độ xác suất đại diện. Tiếp theo là quá trình xác định số chùm thích hợp dựa vào hàm tự cập nhật chùm phù hợp. Cuối cùng là phương pháp xác định xác suất thuộc vào chùm của mỗi ảnh. Thuật toán đề nghị đã được trình bày chi tiết các bước thực hiện về lý thuyết và được minh họa trên tập ảnh cụ thể. Ứng dụng trên một tập ảnh cụ thể cũng cho thấy thuật toán đề nghị cho kết quả hợp lý và thuận lợi hơn một số thuật toán phổ biến khác qua các tham số đánh giá.
Luật số lớn cho bước đi ngẫu nhiên với lực ngoài tác động
Tóm tắt
|
PDF
Mục tiêu của bài báo là nghiên cứu bước đi ngẫu nhiên với một lực ngoài tác động. Cụ thể, với xác suất chuyển trạng thái thỏa một số điều kiện cho trước, một dạng luật số lớn được chỉ ra trong mô hình đang xét. Đồng thời, các kết quả này cũng được mô phỏng thông qua ngôn ngữ lập trình Python.
Phân lập và định danh một số hợp chất từ loài Praxelis clematidea R. M. King & H. Robinson thu hái tại Cần Thơ
Tóm tắt
|
PDF
Praxelis clematidea R. M. King & H. Robinson là một loài thực vật ngoại lai xâm lấn thường hay nhầm lẫn với cây Cỏ cứt lợn - Ageratum conyzoides L. Từ cao chiết ethanol của phần thân và lá của cây P. clematidea, 6 hợp chất đã được phân lập gồm precocene II (1), flavokawain A (2), apigenin (3), 5-hydroxy-7,4'-dimethoxyflavone (4), 5,7,4'-trimethoxyflavone (5), và 5,7,3',4'-tetramethoxyflavone (6). Cấu trúc của các hợp chất này được xác định bằng các dữ liệu phổ NMR, MS và so sánh với tài liệu tham khảo đã công bố. Trong đó, hợp chất flavokawain A lần đầu tiên được phân lập từ loài P. Clematidea.
Sự tồn tại nghiệm của bài toán cân bằng đa trị theo cấu trúc trội và các ứng dụng
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này,các bài toán cân bằng đa trị theo cấu trúc trội trong không gian tôpô không yêu cầu được trang bị cấu trúc tuyến tính được nghiên cứu. Sự tồn tại nghiệm của bài toán này được tiếp cận trực tiếp và không sử dụng đến cấu trúc lồi của tập ràng buộc và hàm mục tiêu cũng như các nguyên lý điểm bất động và nguyên lý biến phân Ekeland. Những kết quả trên được áp dụng vào bất đẳng thức biến phân và bài toán cân bằng mạng giao thông. Ngoài ra, bài báo cũng cung cấp những thí dụ số để minh họa cho khả năng vận dụng của các kết quả đạt được.
Thuật toán tối ưu hóa bầy đàn cho bài toán vị trí Fermat-Weber trên mặt cầu
Tóm tắt
|
PDF
Bài toán Fermat-Weber trên mặt cầu là một mở rộng tự nhiên của bài toán ấy trên mặt phẳng. Do tính phi tuyến và các tính chất hình học đặc biệt của không gian cầu, bài toán đã đặt ra nhiều thách thức trong việc tìm nghiệm tối ưu bằng các phương pháp truyền thống. Trong nghiên cứu này, một cách tiếp cận khác cho bài toán dựa trên thuật toán Tối ưu bầy đàn (Particle Swarm Optimization - PSO) được đề xuất. Thuật toán được thiết kế lại để bảo đảm các cá thể luôn di chuyển trên mặt cầu thông qua kỹ thuật đổi tọa độ.
Nghiên cứu hoạt tính kháng oxy hóa của quercetin và cơ chế hình thành quinone thông qua quá trình trung hòa gốc tự do HOO•
Tóm tắt
|
PDF
Hoạt tính kháng oxy hóa và cơ chế trung hòa gốc tự do HOO• của quercetin được nghiên cứu bằng lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) ở mức lý thuyết B3LYP/6-311++G(d,p). Các phân tích orbital biên, kết hợp với tính toán tham số nhiệt động và động học phân tử cho thấy quercetin thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh trong cả môi trường phân cực lẫn môi trường kém phân cực. Quá trình hình thành quinone bền thông qua phản ứng trung hòa gốc tự do theo cơ chế chuyển nguyên tử hydrogen (HAT) diễn ra theo hai bước. Bước đầu tiên là hình thành gốc tự do quercetin trung gian. Ở bước này, môi trường pentyl ethanoate diễn ra thuận lợi về cả mặt nhiệt động học lẫn động học hơn so với trong nước. Ngược lại, ở bước tách nguyên tử hydrogen lần thứ hai để tạo thành sản phẩm quinone, nước chiếm ưu thế hơn. So với cơ chế HAT, cơ chế chuyển điện tử đơn lẻ (SET) kém thuận lợi hơn về cả yếu tố nhiệt động học lẫn động học.
Công nghệ sinh học
Ứng dụng công nghệ nano trong nông nghiệp
Tóm tắt
|
PDF
Công nghệ nano đang mở ra hướng đi chiến lược cho nông nghiệp hiện đại nhờ khả năng can thiệp ở cấp độ phân tử. Vật liệu nano có diện tích bề mặt lớn và tính phản ứng cao, ứng dụng hiệu quả trong nhiều khâu sản xuất. Cụ thể, phân bón nano cung cấp dinh dưỡng có kiểm soát, tăng hấp thu và giảm thất thoát khi bón vào đất. Thuốc trừ sâu nano như nano đồng, bạc giúp kiểm soát sâu bệnh hiệu quả, giảm độc hại và tồn dư trong sản phẩm nông nghiệp. Trong chăn nuôi, công nghệ nano được ứng dụng trong việc cải thiện chất lượng thức ăn, tăng hiệu quả kháng sinh và chế tạo các chế phẩm nano probiotic. Bao bì nano có tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và giúp kéo dài thời gian sử dụng cho các sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, công nghệ nano còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hệ sinh thái môi trường nên cần có nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn nữa để ứng dụng có hiệu quả công nghệ nano vào nông nghiệp bền vững và lâu dài.
Đánh giá hiệu quả sự phân huỷ Pretilachlor và fenclorim trong thuốc trừ cỏ bởi Pseudomonas sp. PRE2 và Acinetobacter sp. F0 cố định trong Alginate
Tóm tắt
|
PDF
Hỗn hợp hai chủng vi khuẩn là Pseudomonas sp. Pre2 (phân hủy pretilachlor) và Acinetobacter sp. F0 (phân hủy fenclorim) được khảo sát về hiệu quả phân hủy của chúng trong môi trường khoáng lỏng, nước thu về từ ruộng lúa và kênh rạch nhiễm mặn. Sự phân hủy pretilachlor và fenclorim bổ sung vào nước thu về từ ruộng lúa bởi vi khuẩn không cố định tương ứng là 61,9±4,8% và 50,9±6,6% sau 8 giờ, trong lúc sự phân hủy bởi vi khuẩn cố định tương ứng là 89,9±2,2% và 80,6±4,4%. Sự phân hủy còn được thực hiện trong hệ phân hủy đệm, giúp tăng cường hiệu quả của vi khuẩn. Ngoài ra, alginate được hút khô và bảo quản sau ba tháng vẫn có thể sử dụng hiệu quả để phân hủy cả hai hoạt chất.
Nông nghiệp
Ảnh hưởng của giống và biện pháp ngắt đọt, tỉa chồi đến sinh trưởng và năng suất cải kale (Brassica Oleracea L. var. acephala ) trổng trên hệ thống thủy canh nhỏ giọt
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định giống kết hợp với biện pháp ngắt đọt, tỉa chồi làm gia tăng năng suất lá cải kale. Thí nghiệm được bố trí thừa số 2 nhân tố với 5 lần lặp lại. Trong đó, nhân tố A là 4 giống cải kale gồm: xoăn xanh, xoăn tím, rong biển xanh, rong biển tím và nhân tố B là 4 biện pháp ngắt đọt tỉa chồi gồm: không ngắt đọt, ngắt đọt - để 2 chồi, ngắt đọt - để 3 chồi, ngắt đọt - để tự nhiên. Kết quả cho thấy giống xoăn xanh cho năng suất lá thu được trên cây cao nhất trong số 4 giống thí nghiệm. Biện pháp ngắt đọt và để chồi mọc tự nhiên góp phần gia tăng số lá thu hoạch trên cây nhưng làm giảm kích thước lá cải kale so với không ngắt đọt, đồng thời giúp gia tăng độ brix, hàm lượng chất khô và hàm lượng vitamin C trong lá cải kale.
Đánh giá hiệu quả sử dụng một số loại phân bón hữu cơ trong canh tác cây ích mẫu (Leonurus japonicus Houtt.)
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh (HCVS) và phân trùn quế trong canh tác cây ích mẫu, hướng đến giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học và phát triển nông nghiệp bền vững. Kết quả cho thấy việc bón 3 tấn/ha phân hữu cơ vi sinh QCL007 hoặc việc sử dụng 2 tấn phân trùn quế để thay thế 20% lượng đạm vô cơ giúp tăng năng suất và hàm lượng alkaloid của cây ích mẫu. Tuy nhiên, việc thay thế hoàn toàn phân bón vô cơ bằng phân trùn quế làm giảm 22,2% năng suất. Các công thức bón phân hữu cơ cũng góp phần cải thiện pH, hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng đất sau thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu khẳng định phân hữu cơ có tiềm năng lớn trong việc thay thế một phần phân bón hóa học, giúp nâng cao năng suất, chất lượng dược liệu và sức khỏe đất, mở ra hướng đi hiệu quả cho canh tác cây ích mẫu theo định hướng xanh, bền vững.
Đánh giá năng suất và chất lượng của năm giống cải kale (Brassica oleracea L. var. acephala) thuỷ canh trong điều kiện nhà màng
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định năng suất và chất lượng của năm giống cải kale: (1) rong biển xanh, (2) rong biển tím, (3) xoăn xanh, (4) xoăn tím và (5) xoăn xanh Việt bằng phương pháp thủy canh. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 lần lặp lại. Kết quả cho thấy giống cải kale rong biển xanh đạt cao nhất, khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với các giống khác về năng suất (3,60 kg/m²), số lá thu được trên cây (81,8 lá/cây), khối lượng lá (600 g/cây), nhưng khối lượng trung bình lá cao tương đương với rong biển tím và xoăn xanh Việt (dao động từ 6,77 đến 7,36 g/lá). Về chất lượng, rong biển xanh có hàm lượng vật chất khô (11,3%), protein thô (2,96%), canxi (2.411 mg/kg), magie (834 mg/kg) và kali (4.880 mg/kg) thấp hơn một số giống khác nhưng hàm lượng β-carotene đạt mức khá. Cải kale rong biển xanh phù hợp để thủy canh trong điều kiện nhà màng.
Khảo sát u vú trên chó cái tại bệnh xá thú y - Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2024 nhằm xác định tỷ lệ mắc u vú trên chó cái và đánh giá hiệu quả điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Thông qua điều tra bệnh sử và khám lâm sàng, ghi nhận tỷ lệ chó cái mắc u vú là 2,17% trên tổng số chó khảo sát. Trong đó, chó chưa triệt sản mắc u vú cao hơn (3,56%) so với chó đã triệt sản (0,89%). Vị trí khối u xuất hiện nhiều hơn ở tuyến vú phải (50%) và tại vị trí M5 của bầu vú (43%). Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú cho thấy hiệu quả điều trị cao hơn so với chỉ bóc tách, loại bỏ khối u.
Hiệu quả của phương pháp xử lý các loại dịch trích thực vật trong phòng trừ tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne Incognita trên cây cà chua
Tóm tắt
|
PDF
Triệu chứng bướu rễ do tuyến trùng ký sinh Meloidogyne incognita gây ra làm suy giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và năng suất cà chua. Sử dụng dịch trích thực vật đã được chứng minh là một biện pháp hiệu quả trong phòng trừ. Tối ưu hiệu quả phòng trừ qua các biện pháp sử dụng cần được thực hiện. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kiểm soát M. incognita của hai phương pháp xử lý gồm (1) xử lý một lần trước khi trồng và (2) xử lý lặp lại sau khi trồng cà chua, với 07 nghiệm thức: dịch trích ớt 10%, lá bình bát 10%, tỏi 10%, neem 0,3%, neem 0,3% + tỏi 10%, hoạt chất fluopyram và đối chứng nước trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy, phương pháp xử lý lặp lại giảm mật số tuyến trùng đáng kể so với xử lý một lần trước khi trồng. Trong đó, các nghiệm thức tỏi 10%, neem 0,3% và neem 0,3% + tỏi 10% thể hiện hiệu quả cao, giảm rõ rệt mật số tuyến trùng trong đất và rễ so với đối chứng, đồng thời không ảnh hưởng đến sinh trưởng cây trồng.
Cải thiện năng suất và chất lượng giống lúa đặc sản Huyết Rồng xã Khánh Hưng tỉnh Tây Ninh
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được tiến hành nhằm nâng cao độ đồng đều của giống, cải thiện năng suất và đặc tính mềm cơm của giống Huyết Rồng đang canh tác. Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng tại ấp Thái Quang xã Khánh Hưng, tỉnh Tây Ninh theo phương pháp tuần tự, phân tích các đặc tính nông học và chất lượng gạo trong phòng thí nghiệm. Phân tích DNA trên 784 dòng đã xác định được 600 dòng mang kiểu gen amylose thấp (băng PCR 235 bp). Các chỉ tiêu nông học chính được đánh giá gồm: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều dài bông, số bông/m², số hạt chắc/bông, khối lượng 1.000 hạt và năng suất. Phân tích chất lượng gạo (gạo lức, gạo nguyên), amylose, protein và mùi thơm (KOH). Giống Huyết Rồng sau chọn lọc cải thiện rõ rệt về độ đồng đều, đặc tính mềm cơm (hàm lượng amylose giảm 11%) và năng suất tăng khoảng 30%. Giống Huyết Rồng có chiều cao trung bình 121,3 cm, khối lượng 1.000 hạt 25,6 g, năng suất 3,9 tấn/ha, tỷ lệ gạo nguyên 65,5%, dạng hạt dài (gạo lức 7,5 mm), hàm lượng amylose 17,3% và protein 8,8%.
Hiệu quả của phương pháp SLAKES trong đánh giá độ bền kết cấu đất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của SLAKES, trong việc xác định và đánh giá độ bền kết cấu của đất nông nghiệp. Kết quả đánh giá cho thấy, trên hai nhóm đất được khảo sát, chỉ số Slakes có mối tương quan thuận rất chặt chẽ với chỉ số SI (Stability index) – chỉ số độ bền kết cấu đất, được xác định bằng phương pháp rây khô – ướt. Bên cạnh đó, khi đối sánh chỉ số Slakes với các chỉ số chất lượng đất khác như pH, EC, thành phần cơ giới, dung trọng và độ xốp, phương pháp SLAKES thể hiện tiềm năng phản ánh sự thay đổi chất lượng đất giữa các mô hình canh tác, trong đó sự biến động về chất lượng đất chủ yếu liên quan đến tác động của các biện pháp quản lý đất và đặc điểm thổ nhưỡng tại các địa điểm nghiên cứu. Nhìn chung, phương pháp xác định độ bền kết cấu đất trên ứng dụng SLAKES có tiềm năng trở thành một giải pháp thay thế hiệu quả về chi phí, thời gian và thiết bị đơn giản so với phương pháp truyền thống hiện đang được sử dụng, góp phần đánh giá nhanh chất lượng đất.
Vi nhân giống chuối hoa sen (Ensete Glaucum (Roxb.) Cheesman)
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng quy trình vi nhân giống chuối hoa sen. Bốn thí nghiệm được tiến hành: (1) Ảnh hưởng của nồng độ Ca(OCl)2 và thời gian vô trùng mẫu chồi, (2) Ảnh hưởng của nồng độ BA và NAA lên sự nhân chồi, (3) Ảnh hưởng của nồng độ NAA và hàm lượng khoáng MS lên sự tạo rễ và (4) Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tỷ lệ sống của cây con trong điều kiện nhà lưới. Kết quả thí nghiệm cho thấy: (i) Khử trùng chồi chuối hoa sen bằng Ca(OCl)2 15% trong 15 phút (2 lần) cho hiệu quả vô trùng cao; (2) Môi trường MS kết hợp 100 ml/L nước dừa, BA 1 mg/L và NAA 0,2 mg/L phù hợp cho nhân chồi với số chồi gia tăng (2,1 chồi/mẫu); (3) Môi trường MS kết hợp 100 ml/L nước dừa và NAA 0,5 mg/L là cho tỷ lệ tạo tạo rễ đạt 100% và 9,04 rễ sau 6 tuần. Giá thể mụn dừa: tro, mụn dừa: trấu và mụn dừa: tro: trấu đều cho tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng tốt khi thuần dưỡng.
Thủy sản
Thực nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài (CTU-RAS) ở tỉnh Cà Mau
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài (CTU-RAS) tại tỉnh Cà Mau. Thực nghiệm được triển khai ở 3 địa điểm (Thành phố Cà Mau, huyện Năm Căn và huyện U Minh) với mật độ 300 con/m3. Hệ thống CTU-RAS bao gồm 1 bể nuôi tôm và 3 bể cá rô phi, 1 bể lắng, 1 bể lọc giá thể và 1 bể rong câu chỉ. Thời gian nuôi tại các địa điểm 1, 2 và 3 lần lượt là 72, 61 và 90 ngày. Trong quá trình nuôi, các yếu tố môi trường nước dao động trong giới hạn cho sự phát triển của tôm. Tỷ lệ sống trung bình đạt 61,7±17,2%, hệ số chuyển hóa thức ăn viên là 1,24±0,11 và bí đỏ là 0,18±0,12. Năng suất trung bình đạt 4,28±1,18 kg/m³, lợi nhuận 103±10,3 triệu đồng/600m3/vụ với tỷ suất lợi nhuận 0,50±0,10. Kết quả cho thấy mô hình có tiềm năng nhân rộng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm rủi ro dịch bệnh và hướng đến phát triển ngành tôm bền vững.
Đánh giá thành phần loài và biến động mật độ nguồn giống tôm ở vùng biển An Giang
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thành phần loài và sự biến động mật độ nguồn giống tôm theo mùa gió và tuyến khảo sát (bờ–lộng) ở vùng biển An Giang, dựa trên số liệu thu thập vào tháng 11, 12/2022 và 6, 8/2023. Kết quả ghi nhận 19 họ, 36 giống và 50 loài/nhóm loài, trong đó năm họ chiếm ưu thế gồm tôm he, tôm kính, tôm gai, tôm gõ mõ và tôm tít. Mật độ nguồn giống biến động rõ theo mùa, cao nhất trong mùa gió Đông Bắc (7.419 cá thể/1.000 m³), gấp hơn hai lần mùa gió Tây Nam (3.601). Riêng tuyến lộng mùa gió Đông Bắc (8.028) cao hơn khoảng 2,7 lần so với mùa gió Tây Nam (2.914). Phân bố không gian thể hiện nguồn giống tập trung chủ yếu ở vùng bờ phía Đông Nam Phú Quốc và vùng lộng Tây Nam Nam Du trong mùa gió Đông Bắc, thu hẹp dần vào dải ven bờ từ Rạch Giá đến Hòn Sơn trong mùa gió Tây Nam. Đây là cơ sở khoa học cho việc xác định vùng trọng điểm bảo vệ và phục hồi nguồn giống tôm.
Ảnh hưởng của việc thay thế dầu cá bằng dầu thực vật trong khẩu phần ăn lên sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần acid béo của cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Tóm tắt
|
PDF
Tác động của việc thay thế hoàn toàn dầu cá bằng dầu thực vật đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, thành phần acid béo và thành phần cơ thể cá dìa (Siganus guttatus) được đánh giá trong nghiên cứu. Cá giống (4,50 ± 0,14 g) được nuôi với mật độ 40 con/m³ trong chín bể xi măng 4 m³, bố trí theo thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức: dầu cá (ĐC), dầu đậu nành (ĐN) và dầu hướng dương (HD). Sau 60 ngày, cá ăn khẩu phần ĐC đạt tốc độ tăng trưởng, khối lượng cuối và sinh khối cao hơn đáng kể so với ĐN và HD (p < 0,05), đồng thời có hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp nhất. Thành phần hóa học (protein thô, chất khô, khoáng) không khác biệt giữa các nghiệm thức (p > 0,05). Hàm lượng acid béo không bão hòa đa (PUFA) cao nhất ở cá ăn ĐC, tiếp theo là HD và ĐN. Kết quả nghiên cứu cho thấy dầu cá là nguồn lipid phù hợp nhất cho S. guttatus; trong các nguồn lipid thay thế, dầu đậu nành và dầu hướng dương cho hiệu quả tương đương.
Thành phần loài và phân bố của cua đồng (Bộ: Decapoda, Họ: Gecarcinucidae) ở các thuỷ vực vùng nước ngọt và nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tóm tắt
|
PDF
Cua đồng là nhóm cua nước ngọt sống trong các thủy vực khác nhau ở Đồng bằng sông Cửu Long, có giá trị sinh thái và kinh tế cao. Tuy nhiên, việc phân loại nhóm cua này còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất giữa các tác giả, gây khó khăn trong việc xác định đa dạng thành phần loài và vùng phân bố. Ngoài ra, chưa có thông tin quần xã cua đồng có bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn hay không. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 4/2024 đến tháng 3/2025 tại vùng nước ngọt Vĩnh Long - Cần Thơ và vùng bị nhiễm mặn Cà Mau, nhằm xác định thành phần loài, sự phân bố theo thủy vực, khả năng chịu mặn của chúng. Kết quả xác định 4 loài cua đồng: Sayamia germaini, Somanniathelphusa pax, Esanthelphusa dugasti, Somanniathelphusa sinensis. Tỷ lệ xuất hiện của các loài khác nhau ở mỗi thủy vực và mỗi địa phương. Sự đa dạng loài và số lượng cá thể cua đồng ở vùng nước ngọt cao hơn vùng bị nhiễm mặn. Loài S. sinensis chiếm 85% ở ruộng bị nhiễm mặn, chứng tỏ xâm nhập mặn tác động tiêu cực đến cua đồng.
Giáo dục
Tổng quan phạm vi về ứng dụng mô hình lập luận của Toulmin trong dạy học hình học nhằm bồi dưỡng năng lực lập luận toán học cho học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam
Tóm tắt
|
PDF
Mô hình lập luận của Toulmin (TAM) đã được chứng minh là hiệu quả trong nhiều bối cảnh giáo dục quốc tế như một công cụ phân tích và hình thành lập luận. Một tổng quan phạm vi về ứng dụng TAM trong dạy học hình học trung học phổ thông tại Việt Nam giai đoạn 2010-2025 được thực hiện trong bài báo. Sơ đồ PRISMA 2020 và hướng dẫn PRISMA-ScR được sử dụng, 10 nghiên cứu đã được sàng lọc và phân tích theo các tiêu chí: năm xuất bản, loại hình học thuật, công cụ phân tích lập luận, nội dung hình học, phương pháp thực nghiệm, tích hợp công nghệ, công cụ đánh giá và kết quả chính. Kết quả cho thấy ba xu hướng nổi bật là sử dụng TAM phân tích quá trình chứng minh hình học, tích hợp TAM với công nghệ và ứng dụng trong môi trường tranh luận khoa học. Ngoài ra, các khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu bao gồm: thiết kế bài dạy dựa trên TAM, thực nghiệm sư phạm có hệ thống, xây dựng công cụ đánh giá lập luận, tích hợp TAM với các phương pháp khác.
Phân tích một số yếu tố cốt lõi trong giảng dạy tiếng Trung thời kỳ chuyển đổi số tại Việt Nam hiện nay
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, phương pháp nghiên cứu lý thuyết đã được áp dụng, tập trung vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu học thuật đã có. Qua đó, nội hàm các khái niệm liên quan đến vấn đề chuyển đổi số trong giảng dạy tiếng Trung hiện nay đã được thảo luận thêm, bao gồm đội ngũ giảng viên, chủ thể, môi trường và chất lượng tương tác, nhiệm vụ và mục tiêu giảng dạy tiếng Trung hiện nay. Các quan điểm, nhận định trong bài viết này sẽ rất hữu ích cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng liên quan.
Từ láy trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái
Tóm tắt
|
PDF
Bài viết hướng đến việc khảo sát và phân tích đặc điểm, cách sử dụng và giá trị biểu đạt của từ láy trong tiểu thuyết “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái, nhằm khẳng định vị thế quan trọng của từ láy trong tiểu thuyết cũng như thể hiện tài năng vận dụng ngôn ngữ của nhà văn. Bằng phương pháp thống kê – phân loại, phân tích – tổng hợp và so sánh – đối chiếu, nhóm nghiên cứu đã thống kê được 665 từ láy với 1.201 lượt xuất hiện trong toàn bộ tiểu thuyết. Các từ láy được sử dụng phong phú, sáng tạo và linh hoạt, góp phần làm nổi bật giá trị tư tưởng của tiểu thuyết. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo cho việc tìm hiểu văn xuôi của Hồ Anh Thái nói riêng và văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung.
Tác động của phong cách giảng dạy đến sự hài lòng của sinh viên: Kiểm định vai trò trung gian của sự gắn kết học tập
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài nghiên cứu này, tác động của phong cách giảng dạy đến sự hài lòng của sinh viên học tiếng Trung được phân tích, trong đó nhấn mạnh vai trò trung gian của sự gắn kết học tập. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các cơ sở lý thuyết như Student Involvement (sự tham gia của sinh viên), Self-Regulated Learning (tự điều chỉnh học tập) và Teaching for Quality Learning (giảng dạy cho học tập chất lượng), đồng thời số liệu được thống kê theo hướng định lượng với mô hình Partial Least Squares – Structural Equation Modeling (PLS-SEM). Dữ liệu được thu thập từ 500 sinh viên ngành tiếng Trung của 3 trường đại học. Kết quả cho thấy Phong cách giảng dạy (Teaching Style -TS) tác động tích cực đến Gắn kết học tập (Engagement - ENG) làm ảnh hưởng tới Mức độ hài lòng trong học tập (Satisfaction - SAT), β_indirect = 0,35; t = 12,7; p < 0,001, điều này khẳng định vai trò then chốt của phương pháp giảng dạy trong việc định hình trải nghiệm học tập, đồng thời cho thấy khi sinh viên gắn kết nhiều hơn, tác động của phong cách giảng dạy đến sự hài lòng càng mạnh.
Xã hội-Nhân văn
Phra Mae Thorani: Hình tượng mẹ đất thiêng liêng (Terra Mater) trong tín ngưỡng người Khmer Nam Bộ
Tóm tắt
|
PDF
Biểu tượng Phra Mae Thorani - Nữ thần Đất trong Phật giáo Theravāda - như một biểu tượng đặc thù của “Mẹ Đất thiêng liêng” (Terra Mater) trong tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ. Phra Mae Thorani là kết quả của sự tiếp biến văn hóa phù hợp với ký ức của chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng thờ nữ thần của người Khmer Nam Bộ. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khẳng định vai trò của Phra Mae Thorani đã vượt ra ngoài hình mẫu Terra Mater truyền thống, không chỉ giới hạn trong chu kỳ sinh dưỡng tự nhiên mà còn là nhân chứng đạo đức, là nền tảng cho tiến trình giải thoát trong Phật giáo Theravāda. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự chuyển hóa biểu tượng học phản ánh tiến trình nữ quyền hóa tôn giáo trong văn hóa Khmer Nam Bộ. Đồng thời, kết quả bài báo này tạo tiền đề cho việc thực hiện các nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc biểu tượng nữ tính thiêng trong các tôn giáo bản địa và Phật giáo bản địa hóa ở các nước Đông Nam Á.
Đặc điểm sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XXI
Tóm tắt
|
PDF
Bài viết được thực hiện nhằm làm rõ đặc điểm của sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XXI. Thông qua việc phân tích một số tác phẩm văn học tiêu biểu, kết quả cho thấy các nhà văn sử dụng trải nghiệm cá nhân lồng ghép với hư cấu nghệ thuật như một phương thức thể hiện nghệ thuật, nhằm diễn đạt cái tôi, khám phá đời sống nội tâm và phản ánh những chuyển biến tinh thần trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cách tiếp cận này không chỉ làm nổi bật giá trị biểu đạt của hình thức kết hợp tự truyện và hư cấu, mà còn góp phần khẳng định vai trò trung tâm của cái tôi cá nhân trong sáng tạo văn chương Việt Nam thế kỷ XXI, đồng thời cho thấy những thay đổi đáng kể trong tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này.
Từ sử liệu đến Am mây ngủ của thiền sư Thích Nhất Hạnh
Tóm tắt
|
PDF
Bài viết này tập trung tìm hiểu sự sáng tạo của tác giả Thích Nhất Hạnh đối với nhân vật Huyền Trân - Hương Tràng trong tác phẩm Am mây ngủ so với chính sử và ý nghĩa của những sáng tạo đó. Tác phẩm được khảo sát chủ yếu từ góc độ nhân vật, lịch sử - xã hội qua hai mục chính là giải dân tộc trung tâm luận và thức nhận lí duyên sinh. Với hai mục này, những giá trị cơ bản của tác phẩm được trình bày ở việc tái hiện một nhân vật lịch sử, góp phần hóa giải quan niệm Hoa Di, nêu cao tình huynh đệ, sự tôn trọng và phát dương tinh thần tỉnh thức, từ bi của đạo Phật trên cơ sở lí duyên sinh.
Hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa - trường hợp chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tập trung phân tích hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa (BCĐH), đặc biệt là các tác phẩm được đăng tải ở chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam hiện nay. Trong bài báo này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thói quen tiêu thụ, nghiên cứu sự đánh giá của công chúng về ưu điểm và hạn chế của BCĐH ở chuyên mục này. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với BCĐH cũng đã được thực hiện, bao gồm: yếu tố của BCĐH, yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Ngoài ra, các biện pháp phù hợp cũng đã được đề xuất trong nghiên cứu nhằm giúp nâng cao chất lượng BCĐH, giúp thông tin được truyền tải hiệu quả, dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng công chúng trong thời đại số.
Bài ca thảo nguyên trong Tô tem sói (Khương Nhung) và chó ngao Tây Tạng (Vương Chí Quân)
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài viết, Tô tem sói (Khương Nhung) và Chó ngao Tây Tạng (Vương Chí Quân) được phân tích từ góc nhìn sinh thái khu vực. Với phương pháp nghiên cứu phê bình sinh thái – sinh thái khu vực và phương pháp liên ngành,kết quả cho thấy cả hai tác phẩm đều xây dựng hình tượng thảo nguyên như một nhân tố trung tâm chứ không chỉ làm nền cho con người, từ đó tác phẩm truyền tải tinh thần tôn trọng tự nhiên và cảnh báo trước các biến động sinh thái. Cả hai bài ca thảo nguyên đều nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa con người với hệ sinh thái bản địa, phản ánh triết lý “vạn vật hữu linh”. Những phát hiện này không chỉ góp phần khắc họa đặc điểm sinh thái thảo nguyên trong văn học Trung Quốc đương đại mà còn đóng góp vào việc phát triển lý thuyết sinh thái khu vực khi nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh địa phương trong sáng tác văn học sinh thái.