Than sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp: tính chất và tiềm năng ứng dụng trong xử lý kháng sinh

Lâm Phúc Thông*, Nguyễn Minh Nhựt, Đặng Huỳnh Giao
Tóm tắt
Ô nhiễm kháng sinh trong môi trường nước đang trở nên ngày càng nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người cũng như động vật. Các phương pháp xử lý kháng sinh hiện nay đang là thách thức quan trọng và chưa thể hiện được hiệu quả cao. Hấp phụ cho thấy được tiềm năng trong việc xử lý hiệu quả kháng sinh, nhất là ở nồng độ thấp. Trong các loại vật liệu hấp phụ, than sinh học (TSH) từ phụ phẩm nông nghiệp ngày càng được quan tâm trong việc xử lý các ô nhiễm môi trường do có đặc tính tốt, chi phí sản xuất thấp và thân thiện với môi trường. TSH cho thấy được hiệu quả xử lý kháng sinh cao so với các loại vật liệu khác với dung lượng hấp phụ tối đa có thể đạt hơn 550 mg/g, trong khi chi phí sản xuất chỉ trong khoảng từ 0,35 đến 1,2 USD/kg, thấp hơn đáng kể so với các loại vật liệu khác. Kết quả cho thấy TSH đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng để giải quyết hiệu quả ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam.

Đánh giá khả năng phân hủy acid orange 7 của vật liệu FeCo-ZIFs với sự hiện diện của chất oxy hóa

Đặng Huỳnh Giao*, Cao Đặng Hoàng Ân, Hồ Ngọc Tri Tân, Lương Huỳnh Vủ Thanh, Trần Hoàng Ái
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, vật liệu FeCo-ZIFs có cấu trúc tinh thể cao đã được tổng hợp thành công trong methanol bằng phương pháp nhiệt dung môi. Đặc điểm cấu trúc của FeCo-ZIFs được xác định bằng các phương pháp phân tích hiện đại như PXRD, FT-IR, EDX, SEM, TGA và khả năng hấp phụ khí nitơ. FeCo-ZIFs thể hiện khả năng xúc tác phân hủy acid orange 7 (AO7) tốt với sự hiện diện của chất oxy hóa potassium peroxydisulfate trong môi trường nước giả thải. Kết quả cho thấy FeCo-ZIFs có thể xử lý 99,2% AO7 nồng độ 30 mg/L trong vòng 20 phút ở nhiệt độ phòng, với nồng độ PDS và FeCo-ZIFs lần lượt là 0,1 g/L và 0,2 g/L. Điều này chứng tỏ FeCo-ZIFs là vật liệu tiềm năng để loại bỏ các hợp chất hữu cơ khó phân hủy trong môi trường nước, góp phần bảo vệ môi trường.

Điều chế than hoạt tính từ vỏ củ ấu: Ứng dụng hấp phụ thuốc nhuộm và làm điện cực siêu tụ điện

Trần Thị Hồng Ngân*, Trần Trung Dũng, Huỳnh Nguyễn Như Ngọc, Trần Văn Mẫn
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, kết quả tổng hợp và khảo sát ứng dụng của vật liệu than hoạt tính (AC) từ phế phẩm vỏ củ ấu cho hai mục tiêu: xử lý nước thải và lưu trữ năng lượng được trình bày. Vật liệu được điều chế thành công bằng phương pháp nung pha rắn và hoạt hóa hóa học bằng potassium hydroxide (KOH). Phân tích XRD xác nhận cấu trúc carbon vô định hình đặc trưng, với đỉnh nhiễu xạ rộng tại 2θ ≈ 23–30° và 45°. Vật liệu có bề mặt xốp và diện tích bề mặt riêng đạt 774 m²/g. Trong ứng dụng xử lý môi trường, vật liệu đã được thử nghiệm trên mẫu nước thải thực tế từ làng nghề dệt chiếu Định Yên (Đồng Tháp), cho hiệu suất khử màu 99,89% và giảm trên 70% chỉ số BOD₅ và COD. Ngoài ra, khi ứng dụng làm điện cực siêu tụ điện trong dung dịch điện giải 1,0 M Na₂SO₄, vật liệu ghi nhận điện dung riêng cực đại là 32 F/g tại mật độ dòng 0,5 A/g, điện thế 1V và duy trì 86,5% điện dung sau 2000 chu kỳ.

Công nghệ tách ion điện dung (CDI) trong xử lý nước thải: Cơ chế, ứng dụng và triển vọng phát triển

Thái Phương Vũ*
Tóm tắt
Nước là tài nguyên thiết yếu đối với sự sống và sự phát triển bền vững của con người. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước và khan hiếm nước ngọt ngày càng trở thành những thách thức nghiêm trọng trên toàn cầu. Trong bối cảnh đó, công nghệ tách ion điện dung (CDI) đã và đang thu hút sự quan tâm nhờ các ưu điểm nổi bật như tiêu thụ năng lượng thấp, hiệu quả xử lý cao, chi phí hợp lý, thân thiện với môi trường và khả năng tái sử dụng của vật liệu điện cực. Bài báo này được thực hiện nhằm trình bày tổng quan có hệ thống về nguyên lý hoạt động, cấu hình, vật liệu điện cực, và các ứng dụng nổi bật của công nghệ CDI, không chỉ trong khử muối mà còn trong loại bỏ kim loại nặng, hợp chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật. Trong nghiên cứu,  việc phân tích cơ hội và thách thức đã được tiến hành, đồng thời các định hướng nghiên cứu tiếp theo cũng đã được đề xuất nhằm mở rộng ứng dụng công nghệ CDI trong xử lý nước tại Việt Nam.

So sánh đặc điểm hình thái, cấu trúc giải phẫu của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) được trồng tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng

Phùng Thị Hằng*, Nguyễn Trọng Hồng Phúc, Phan Thành Đạt, Võ Thị Hạnh, Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Phúc Đảm, Nguyễn Khởi Nghĩa
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát và xây dựng hệ thống dữ liệu về điều kiện đất trồng, hình thái, giải phẫu (ở từng giai đoạn khác nhau) của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) tại vùng đồng bằng sông Cửu long (với 3 địa điểm nghiên cứu là Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang). Kết quả cho thấy tại ba địa điểm nghiên cứu cây xuyên tâm liên đều đạt tốt các chỉ số sinh trưởng (chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá). Trong đó, mẫu thu tại địa điểm Cần Thơ đạt ở mức cao hơn 2 địa điểm còn lại. Đặc điểm đặc biệt của đất ở khu vực này là hàm lượng chất hữu cơ cao. Cấu trúc giải phẫu của thân và lá cây xuyên tâm liên ở các giai đoạn khác nhau đã được mô tả. Kích thước, số lượng một số loại mô có khả năng dự trữ (các hợp chất thứ cấp, dược liệu) và biểu hiện đặc tính thích nghi đã được đo đếm, thống kê và so sánh. Các số liệu này có thể giúp xác định các giai đoạn khai thác cây xuyên tâm liên một cách thích hợp hơn.

Đa dạng loài và tỷ lệ sản lượng của các nhóm hải sản ở vùng biển ven bờ, vùng lộng tỉnh Nghệ An dựa trên kết quả điều tra bằng lưới kéo đáy

Tạ Phương Đông*, Nguyễn Văn Giang, Vũ Việt Hà
Tóm tắt
Nghệ An là một tỉnh trọng điểm về phát triển nghề cá biển ở nước ta, nhưng trong những năm gần đây nguồn lợi hải sản đang đứng trước nhiều thách thức do hoạt động khai thác quá mức. Để có cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, hai chuyến điều tra theo mùa gió Đông Bắc và Tây Nam năm 2022, kết hợp với các trạm điều tra lịch sử được thực hiện, từ đó cung cấp thông tin về sự đa dạng cũng như cấu trúc nguồn lợi tại vùng biển này. Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng biển Nghệ An có thành phần loài đa dạng với 483 loài/nhóm loài hải sản đã được ghi nhận, trong đó có 346 loài cá, 93 loài giáp xác, 32 loài chân đầu, 9 loài chân bụng, 3 loài hai mảnh vỏ. Riêng các chuyến điều tra năm 2022 chỉ ghi nhận được 224 loài. Các chỉ số đa dạng Shannon - Weiner, Eveness và Simpson lần lượt là: H‘ = 3,28; E = 0,52; D = 0,74. Sản lượng nhóm cá đáy chiếm ưu thế nhất, tiếp theo nhóm giáp xác. Tỷ lệ sản lượng thay đổi đáng kể theo mùa, thể hiện rõ ở vùng ven bờ với sự gia tăng tỷ lệ giáp xác trong mùa gió Tây Nam.

Leptogenesis trong mô hình đối xứng A4 modular cho khu vực lepton với cơ chế seesaw tối thiểu

Nguyễn Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Thanh Phong*
Tóm tắt
Nhóm gián đoạn A4 modular trong mô hình siêu đối xứng tối thiểu, với cơ chế seesaw loại I tối giản để sinh khối lượng các neutrino được đề xuất nhằm hạn chế số lượng các tham số tự do và các trường mới khi mở rộng mô hình chuẩn. Kết quả tính số cho thấy, mô hình đề xuất đã giải thích thỏa đáng tất cả các số liệu thí nghiệm các lepton ở độ chính xác . Dựa trên các số liệu thực nghiệm, các giá trị được phép của các tham số của mô hình cũng được tìm thấy. Quá trình leptogenesis cũng đã được tính toán, kết quả tính số chỉ ra rằng, bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất của Vũ trụ đã được giải thích thỏa đáng bởi mô hình đề xuất trong nghiên cứu này.

Khảo sát đặc tính stress muối KCl, NaCl đến khả năng thu nhận hàm lượng carotenoid ở chủng Rhodotorula mucilaginosa

Ngô Đại Nghiệp*, Nguyễn Hoàng Thảo Ly
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của stress thẩm thấu do muối KCl, NaCl và tổ hợp KCl – NaCl đến sinh trưởng, khả năng sinh tổng hợp carotenoid và hoạt tính kháng oxy hóa của nấm men Rhodotorula mucilaginosa. Kết quả cho thấy nồng độ KCl 0,5 M và NaCl (0,5 – 1,5 M) duy trì sinh khối ở mức khá cao, đồng thời cảm ứng tích lũy carotenoid. Tổ hợp muối KCl 0,5 M – NaCl 1,0 M cho kết quả tối ưu, đạt hàm lượng carotenoid cao nhất (230,40 µg/g) mà vẫn giữ được sinh khối đáng kể. Việc phân tích bằng sắc ký lớp mỏng giúp xác định sự hiện diện của astaxanthin và β-carotene, với cường độ astaxanthin tăng rõ ở mẫu stress muối. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa cho thấy mẫu carotenoid có năng lực khử và khả năng bắt gốc tự do ABTS⁺ vượt trội so với Trolox, với giá trị IC₅₀ của mẫu stress muối thấp hơn gấp ba lần. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của carotenoid từ R. mucilaginosa như chất chống oxy hóa tự nhiên trong thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm.

Phân lập và tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men bốn loại dịch ép trái cây

Dương Thị Bích*, Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Văn Bá
Tóm tắt
Việc tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men nhiều loại trái cây là rất cần thiết trong lĩnh vực lên men đồ uống, giúp giảm chi phí làm mát và áp dụng trên nhiều nguyên liệu. Trong nghiên cứu, 6 dòng nấm men có khả năng sản xuất ethanol với nồng độ từ 4 đến10% đã được phân lập và tuyển chọn. Trong đó, 5 dòng phát triển ở nhiệt độ 45oC trong môi trường YPD lỏng. Qua khảo sát sàng lọc, dòng MR phân lập từ mít, có thể phát triển ở nhiệt độ 45oC, pH 3,5 và lên men được các loại trái cây như ổi, khế, mít và cam sành đạt nồng độ ethanol tương ứng 10%, 10%, 8% và 6% được chọn. Trình tự gen 18S rRNA của dòng MR được phân tích cho thấy mức độ tương đồng 91,34% với Saccharomyces cerevisiae AUMC 10233. Các điều kiện nhiệt độ, pH, thời gian lên men và từng loại trái cây được tiếp tục khảo sát để khai thác tối đa khả năng lên men của dòng MR, nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất ethanol và đa dạng nguyên liệu.

Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở tiềm năng đất đai tại thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang

Phan Chí Nguyện, Hà Trọng Tính, Huỳnh Trầm Mộng Duy, Nguyễn Thị Song Bình, Vương Tuấn Huy, Phạm Thanh Vũ*
Tóm tắt
Bài báo được thực hiện nhằm xác định tiềm năng đất đai về tự nhiên, kinh tế làm cơ sở đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp mang tính bền vững cho thị xã Tịnh Biên. Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai của The Food and Agriculture Organization [FAO] (1976, 2007) được áp dụng nhằm xác định khả năng thích nghi tự nhiên và kinh tế cho các loại hình sử dụng đất nông nghiệp. Kết quả có 05 vùng thích nghi đất đai tự nhiên, 08 vùng thích nghi đất đai kinh tế kết hợp tự nhiên được xây dựng cho sáu kiểu sử dụng đất từ 10 đơn vị đất đai. Thông qua đó, ba vùng sản xuất nông nghiệp được đề xuất với các loại hình sử dụng đất được chọn lựa và ưu tiên khi thực hiện triển đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, các giải pháp khắc phục các yếu tố giới hạn đến khả năng thích nghi đất đai về công trình và phi công trình cũng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khai thác tài nguyên đất đai mang tính bền vững trong điều kiện ngập lũ, khô hạn và đất nhiễm phèn.

Hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất cải xanh (Brassica juncea) và đặc tính đất ở thực tế đồng ruộng tại thành phố Cần Thơ

Châu Thị Anh Thy, Nguyễn Thị Kiều Oanh, Trần Trung Hừng, Nguyễn Khởi Nghĩa*
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất của cải xanh và đặc tính đất tại Thành phố Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Kết quả qua ba vụ thí nghiệm cho thấy, hai dòng vi khuẩn MT6 và HH5 giúp giảm 25% phân bón hóa học, đồng thời cải thiện chiều cao cây, chiều dài lá, chỉ số SPAD của lá, năng suất và sinh khối khô của cải xanh, đặc biệt giúp giảm hàm lượng nitrat tích lũy trong thân cây. Dòng vi khuẩn MT6 kích thích chiều dài rễ, tăng năng suất và sinh khối khô tốt hơn dòng vi khuẩn HH5. Cả hai dòng vi khuẩn đều giúp cải thiện P hữu dụng, EC và pH trong đất so với nghiệm thức chỉ bón phân hóa học. Đặc biệt, dòng vi khuẩn MT6 giúp tăng Pts trong thân và Phd trong đất. Ngoài ra, các nghiệm thức có chủng vi khuẩn cũng giúp cải thiện mật số vi khuẩn cố định đạm, hòa tan lân và silic trong đất.

Phát triển năng lực khoa học của học sinh thông qua dạy học nội dung "Không khí" trong môn Khoa học 4 bằng truyện tranh khoa học

Trần Thị Phương Dung*, Nguyễn Huỳnh Thanh Ngân, Ngô Thanh Tấn, Lê Phương Uyên, Trần Minh Mẫn, Trịnh Thụy Xuân Thảo, Lưu Tăng Phúc Khang
Tóm tắt
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, việc chọn hình thức dạy học phù hợp ở tiểu học là cần thiết. Bài học “Không khí” trong môn Khoa học lớp 4 thường gây khó khăn cho học sinh trong hình dung và vận dụng kiến thức thực tiễn. Việc thiết kế và thử nghiệm dạy học bằng truyện tranh khoa học trong nghiên cứu nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh tiểu học. Dựa vào lí luận truyện tranh khoa học và tiếp cận kiến tạo, truyện “Hành trình truy tìm hơi thở xanh” được xây dựng và áp dụng với hai nhóm học sinh tại một trường tiểu học. Kết quả phân tích định lượng cho thấy lớp thực nghiệm đạt kết quả học tập cải thiện so với lớp đối chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), đồng thời thể hiện tiến bộ đồng đều giữa học sinh. Tính khả thi và hiệu quả của truyện tranh khoa học được khẳng định trong nghiên cứu như công cụ dạy học tích cực, góp phần phát triển tư duy và năng lực khoa học học sinh.

Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

Phí Đình Khương*
Tóm tắt
Trong những năm qua, công tác bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường trung học cơ sở đã bắt đầu được chú trọng, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn hạn chế. Việc tư vấn tâm lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của giáo viên, thiếu vắng các kỹ năng chuyên môn bài bản. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn qua bảng hỏi với 45 cán bộ quản lý, 450 giáo viên, 300 phụ huynh và 300 học sinh tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông. Phần mềm SPSS 22.0 được sử dụng làm phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ thực trạng về công tác bồi dưỡng, chỉ ra các điểm mạnh và yếu. Từ đó, các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

Đặc điểm sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XXI

Nguyễn Hồng Đan*, Nguyễn Bạch Đan
Tóm tắt
Bài viết được thực hiện nhằm làm rõ đặc điểm của sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XXI. Thông qua việc phân tích một số tác phẩm văn học tiêu biểu, kết quả cho thấy các nhà văn sử dụng trải nghiệm cá nhân lồng ghép với hư cấu nghệ thuật như một phương thức thể hiện nghệ thuật, nhằm diễn đạt cái tôi, khám phá đời sống nội tâm và phản ánh những chuyển biến tinh thần trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cách tiếp cận này không chỉ làm nổi bật giá trị biểu đạt của hình thức kết hợp tự truyện và hư cấu, mà còn góp phần khẳng định vai trò trung tâm của cái tôi cá nhân trong sáng tạo văn chương Việt Nam thế kỷ XXI, đồng thời cho thấy những thay đổi đáng kể trong tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này.

Văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay: Theo kịp thời đại nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc

Nguyễn Hồng Đan*, Nguyễn Bạch Đan
Tóm tắt
Bài viết được thực hiện nhằm phân tích sự chuyển mình của văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay trong hành trình bắt nhịp với thời đại mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Với tư duy nghệ thuật đổi mới, kỹ thuật viết hiện đại và sự mở rộng đề tài đã giúp văn học phản ánh sâu sắc đời sống đương đại. Các thủ pháp như dòng ý thức, kết cấu phi tuyến hay thủ pháp liên văn bản được vận dụng linh hoạt, góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà. Dù chịu tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hiện đại hóa, cốt lõi văn hóa dân tộc vẫn được gìn giữ thông qua việc bảo tồn những yếu tố đặc trưng trong sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật. Quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam không diễn ra theo hướng vay mượn thụ động, mà là sự tiếp biến có chọn lọc và sáng tạo. Nhờ đó, sáng tạo nghệ thuật trong văn học thời kì đổi mới vừa bắt nhịp với thời đại vừa giữ được chiều sâu văn hóa Việt.

Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng thành phố Cần Thơ

Nguyễn Ánh Minh*, Nguyễn Lê Mẫn, Vũ Thị Thuỳ Dung, Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Hải Minh
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 203 du khách, bộ tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định T-Test và kiểm định phương sai. Kết quả có ba nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động du lịch bao gồm: yếu tố hấp dẫn, chất lượng dịch vụ và môi trường. Đáng chú ý, mức độ hài lòng thay đổi sau trải nghiệm ảnh hưởng tích cực đến ý định quay lại và giới thiệu điểm đến của du khách. Ngoài ra, kết quả cho thấy không có sự khác biệt ở mức độ hài lòng của đặc điểm nhân khẩu học. Trong nghiên cứu, một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách góp phần phát triển du lịch chợ nổi Cái Răng bền vững cũng đã được đề ra.

Thực hành hoạt động xanh đến hiệu suất môi trường ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết chính sách, sản phẩm, nhân viên

Nguyễn Thanh Vinh, Trần Thị Lệ Hiền*, Đinh Thị Quỳnh Anh, Lê Hoàng Như Quỳnh, Đỗ Ngọc Tuyết Hương
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của thực hành hoạt động xanh của nhân viên đến hiệu suất môi trường tại các ngân hàng thương mại ở thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tuyến từ 375 nhân viên chuyên trách ngân hàng xanh tại 16 ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2024, dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất môi trường gồm: hoạt động chính sách ngân hàng (0,313), thực hành hoạt động nhân viên (0,312) và phát triển sản phẩm xanh (0,292). Vai trò điều tiết quan trọng của ba yếu tố này trong việc nâng cao hiệu suất bảo vệ môi trường được xác định trong nghiên cứu. Cụ thể, việc thực hành tại cơ sở và hoạt động khách hàng tác động trực tiếp đến thực hành hoạt động nhân viên, phát triển sản phẩm xanh và chính sách ngân hàng; từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất môi trường. Kết quả là bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa thực hành hoạt động xanh và hiệu suất môi trường, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển ngân hàng xanh.