Trắc lượng hấp thụ Carbon dioxide (CO2) của Tre Tầm Vông tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Tóm tắt
Tre là loài thực vật phổ biến ở Việt Nam vì đặc điểm dễ trồng, ít chăm sóc, đa dụng và có khả năng giữ đất, phòng chống thiên tai. Tre Tầm Vông là giống tre phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, được xem là loài cây có nhiều tiềm năng hấp thụ khí Carbon dioxide (CO2), giúp giảm thiểu hiện tượng nóng lên toàn cầu và tác động của biến đổi khí hậu. Cách trắc lượng sinh khối tươi và khô của tất cả bộ phận cây tre tầm vông được áp dụng để tính lượng carbon tích lũy từ các rừng trồng tre Tầm Vông ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Kết quả đo đạc và tính toán cho thấy cây tre Tầm Vông có khả năng hấp thụ 9.844 tấn CO2/ha và 19.279 tấn CO2/ha lần lượt cho vườn tre 1 năm tuổi và 2 năm tuổi. Điều này cho thấy, ngoài lợi ích kinh tế và xã hội, cây tre Tầm Vông có thể mở rộng diện tích, góp phần thiết lập tín chỉ carbon cho các địa phương.
So sánh đặc điểm sinh sản của heo nái và tăng trưởng của heo con giữa tổ hợp giống nái Pietrain x (Landrace x Yorkshire) và Landrace x Yorkshire
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh đặc điểm sinh sản của nái và tăng trưởng của heo con giữa hai tổ hợp giống nái Pietrain x (Landrace x Yorkshire) (Pi-LY) và Landrace x Yorkshire (L-Y). Thí nghiệm được thực hiện trên 240 nái (lứa 3 – 5) phối với đực Duroc, gồm 120 nái Pi-LY và 120 nái L-Y. Nái Pi-LY có tuổi lên giống lần đầu (TLGLĐ) cao hơn (195 ± 1,92 và 189 ± 1,51 ngày, p < 0,05) và tổng thời gian đẻ (TTGĐ) ngắn hơn (319 ± 16,5 và 382 ± 16,4 phút, P < 0,05). Trong khi đó, nái L-Y cho số con sơ sinh (SCSS) (16,57 ± 0,23 và 15,71 ± 0,24 con, P = 0,02) và SCSS còn sống (SCSSCS) (15,65 ± 0,25 và 14,74 ± 0,23 con, p = 0,01) cao hơn đáng kể. Khối lượng heo con ở 40 ngày tuổi (KL40NT) ở nhóm L-Y cũng cao hơn (10,55 ± 0,15 và 9,79 ± 0,19 kg, P = 0,001), đồng thời khối lượng cai sữa trên mỗi nái mỗi năm (KLCS/N/N) của L-Y vượt trội (7,57 ± 0,11 và 7,02 ± 0,11 kg, p = 0,001). Qua đó, kết quả giúp phản ánh rõ sự khác biệt về di truyền giữa hai tổ hợp giống, trong đó giống L-Y với ưu thế từ dòng chuyên sinh sản, cho hiệu quả vượt trội về số lượng và tốc độ tăng trưởng của heo con trước cai sữa.
Ảnh hưởng của đực giống Pietrain, Yorkshire và Duroc đến số con, tăng trưởng và tỷ lệ chết trước cai sữa ở heo con
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của giống đực (Pietrain, Yorkshire và Duroc) đến năng suất sinh sản và khả năng sinh trưởng của heo con từ lúc sinh đến cai sữa của nái hậu bị (Landrace × Yorkshire). Kết quả cho thấy giống đực Yorkshire cho số heo con sinh ra (17,77 ± 0,74 con/ổ) và cai sữa (16,11 ± 0,88 con/ổ) cao nhất (p < 0,001), trong khi giống Duroc lại có khối lượng cai sữa (7,80 ± 0,14 kg) và tăng khối lượng trung bình hàng ngày toàn kỳ (228,41 ± 5,36 g/ngày) cao hơn hai giống heo đực còn lại (p < 0,01). Tỷ lệ chết trước cai sữa của heo con không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giống (p > 0,05), tuy nhiên nhóm Duroc có xu hướng tử vong thấp hơn. Kết quả gợi ý rằng việc lựa chọn giống đực có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng đàn con và hiệu quả chăn nuôi trong giai đoạn trước cai sữa.
Ảnh hưởng của tia gamma lên sự thay đổi hình thái ở các dòng hoa tử la lan (Sinningia speciosa)
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, các chồi tử la lan được xử lý chiếu xạ bằng tia gamma ở các liều khác nhau(0, 10, 20, 30, 40, 60 và 80 Gy).Các chồi được tách riêng và được nuôi cấy trên môi trường 1/2MS có bổ sung 0,2 mg/L NAA để tạo rễ trong 6 tuần.Cây con được thuần dưỡng,các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển được theo dõi và đánh giá.Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi kiểu phát hoa và màu sắc hoa từ đỏ đậm đến đỏ hồng, một số dòng xuất hiện các đốm trắng trên cánh hoa.Liều chiếu xạ 20 Gy cho thấy có sự gia tăng về chiều cao cây, số lá, chiều dài lá và rộng lá trong khi đó, liều chiếu xạ 10 Gy được xem là tối ưu cho quá trình hình thành hoa như số nụ/cây,số hoa cây,đường kính hoa và độ bền hoa.Việc phân tích mối quan hệ di truyền dựa vào các chỉ tiêu hình thái cho thấy các dòng đã xử lý ở liều chiếu xạ 10 Gy,20 Gy,60 Gy và 40 Gy có mối quan hệ với dòng đối chứng.Dòng 30 Gy và 80 Gy có mối quan hệ gần nhau, nhưng tách biệt với dòng đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy liều chiếu xạ 10 Gy có thể giúp cho các nhà nhân giống lựa chọn được các dòng Từ la lan đột biến về hình dáng và màu sắc hoa.
Khảo sát đặc tính stress muối KCl, NaCl đến khả năng thu nhận hàm lượng carotenoid ở chủng Rhodotorula mucilaginosa
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của stress thẩm thấu do muối KCl, NaCl và tổ hợp KCl – NaCl đến sinh trưởng, khả năng sinh tổng hợp carotenoid và hoạt tính kháng oxy hóa của nấm men Rhodotorula mucilaginosa. Kết quả cho thấy nồng độ KCl 0,5 M và NaCl (0,5 – 1,5 M) duy trì sinh khối ở mức khá cao, đồng thời cảm ứng tích lũy carotenoid. Tổ hợp muối KCl 0,5 M – NaCl 1,0 M cho kết quả tối ưu, đạt hàm lượng carotenoid cao nhất (230,40 µg/g) mà vẫn giữ được sinh khối đáng kể. Việc phân tích bằng sắc ký lớp mỏng giúp xác định sự hiện diện của astaxanthin và β-carotene, với cường độ astaxanthin tăng rõ ở mẫu stress muối. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa cho thấy mẫu carotenoid có năng lực khử và khả năng bắt gốc tự do ABTS⁺ vượt trội so với Trolox, với giá trị IC₅₀ của mẫu stress muối thấp hơn gấp ba lần. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của carotenoid từ R. mucilaginosa như chất chống oxy hóa tự nhiên trong thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm.
Ứng dụng chỉ thị phân tử để phân biệt ba loài cây thuốc dễ nhầm lẫn thuộc chi Ba bét (Mallotus Lour.)
Tóm tắt
Chi Ba bét (Mallotus) có nhiều loài giống nhau về hình thái, dễ bị nhầm lẫn. Trong đó, ba loài M. floribundus, M. peltatus và M. philippensis là những loài có giá trị làm thuốc, có vùng phân bố rộng và có hình thái cơ quan sinh dưỡng tương tự nhau, dễ nhầm lẫn trong quá trình thu hái. Chỉ thị DNA đang được dùng ngày càng nhiều và có thể giúp xác định đúng loài ngay cả khi thiếu chuyên gia phân loại hình thái. Trong nghiên cứu này, ba chỉ thị DNA cốt lõi cho thực vật là rbcL, matK và ITS được nghiên cứu để phân biệt ba loài dược liệu có hình thái tương tự là M. floribundus, M. peltatus và M. philippensis. Kết quả cho thấy tổ hợp ba chỉ thị ITS, rbcL và matK hoặc tổ hợp hai chỉ thị ITS và rbcL hoặc ITS và matK hoặc chỉ riêng chỉ thị ITS hoặc một phần của ITS là ITS1 hoặc ITS2 có thể dùng để phân biệt ba loài Ba bét này.
Phân lập và tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men bốn loại dịch ép trái cây
Tóm tắt
Việc tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men nhiều loại trái cây là rất cần thiết trong lĩnh vực lên men đồ uống, giúp giảm chi phí làm mát và áp dụng trên nhiều nguyên liệu. Trong nghiên cứu, 6 dòng nấm men có khả năng sản xuất ethanol với nồng độ từ 4 đến10% đã được phân lập và tuyển chọn. Trong đó, 5 dòng phát triển ở nhiệt độ 45oC trong môi trường YPD lỏng. Qua khảo sát sàng lọc, dòng MR phân lập từ mít, có thể phát triển ở nhiệt độ 45oC, pH 3,5 và lên men được các loại trái cây như ổi, khế, mít và cam sành đạt nồng độ ethanol tương ứng 10%, 10%, 8% và 6% được chọn. Trình tự gen 18S rRNA của dòng MR được phân tích cho thấy mức độ tương đồng 91,34% với Saccharomyces cerevisiae AUMC 10233. Các điều kiện nhiệt độ, pH, thời gian lên men và từng loại trái cây được tiếp tục khảo sát để khai thác tối đa khả năng lên men của dòng MR, nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất ethanol và đa dạng nguyên liệu.
Ảnh hưởng của quá trình tiền xử lý, tỷ lệ gia vị và phương pháp gia nhiệt đến chất lượng sản phẩm chà bông nấm bào ngư (Pleurotus sajor-caju)
Tóm tắt
Nấm bào ngư (Pleurotus sajor-caju) là nguyên liệu giàu dinh dưỡng và chứa nhiều hợp chất sinh học có hoạt tính chống oxy hóa (phenolic tổng số: 1,92±0,21 mg GAE/g, DPPH: 3,50±0,20 mg TE/g), nhưng khó bảo quản do độ ẩm cao (>90%). Nghiên cứu được thực hiện nhằm chế biến chà bông nấm với chất lượng tốt thông qua khảo sát công đoạn xử lý (xé – chần – cấp đông), hàm lượng hạt nêm (3, 4, 5%) và đường (5, 6, 7%) và phương pháp xử lý nhiệt (sấy, sao rang, kết hợp). Kết quả cho thấy, nấm được xé – chần – cấp đông tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ, chế biến. Hạt nêm được bổ sung 4% và 5% đường kết hợp với sấy và sao rang giúp chà bông nấm đạt chất lượng tốt với độ ẩm 20±1%, aw 0,65, hiệu suất thu hồi >77%, và mức độ yêu thích 8/9 điểm. Nghiên cứu đã phát triển quy trình sản xuất bằng việc kết hợp các phương pháp chế biến, rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao giá trị cảm quan, mà không làm giảm chất lượng sản phẩm.
Ảnh hưởng của điều kiện chần vi sóng đến hoạt độ enzyme peroxidase, màu sắc và các hợp chất sinh học trong rau má (Centella asiatica (L.) Urb.)
Tóm tắt
Công suất và thời gian chần vi sóng thích hợp nhằm vô hoạt enzyme peroxidase (POD), cải thiện màu sắc, duy trì hàm lượng hợp chất sinh học và khả năng kháng oxy hóa của rau má được xác định trong nghiên cứu. Rau má được chần trong lò vi sóng với hai nhân tố khảo sát là công suất (200, 300, 400, 500 và 600 W) và thời gian (0, 30, 45, 60, 75 và 90 giây). Chần rau má ở 500 W trong 60 giây có khả năng vô hoạt 90% POD và cải thiện tốt màu sắc (L* = 55,73±0,69, a* = -4,74±0,13 và b* = 12,55±0,79). Đồng thời, điều kiện này cũng duy trì tốt hàm lượng polyphenol (TPC) (118,10±2,85 mg GAE/g), flavonoid (TFC) (110,10±0,44 mg QE/g) và khả năng loại gốc tự do DPPH (10,20±0,61 mg TE/g). Động học vô hoạt POD ở công suất 500 W tuân theo mô hình bậc nhất với hệ số xác định cao (R2 = 0,9447), các thông số động học được ghi nhận lần lượt là k = 0,0377 s-1 và D = 61 giây. Ngoài ra, kết quả cũng ghi nhận sự tương quan cao giữa hoạt độ POD và giá trị L*, a*, TPC, TFC, khả năng loại gốc tự do DPPH (r = -0,740; 0,851; -0,812; -0,656 và -0,939, tương ứng).
Tuyển chọn và phục tráng giống tỏi (Allium sativum L.) Phan Rang tại tỉnh Ninh Thuận
Tóm tắt
Giống tỏi Phan Rang có hơn 35% nông dân tự lưu giữ giống tỏi cho vụ sau chưa đúng phương pháp, việc tận dụng cả tép tỏi không đạt chuẩn giống để trồng làm cho giống tỏi ngày càng bị thoái hóa, năng suất và phẩm chất tỏi giảm thấp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tuyển chọn và phục tráng được giống tỏi Phan Rang có năng suất cao hơn các giống tỏi sản xuất đại trà 10% và duy trì được phẩm chất đặc trưng của giống tỏi Phan Rang trong điều kiện khí hậu và đất đai tại tỉnh Ninh Thuận. Phương pháp chọn lọc quần thể được cải tiến. Kết quả sau 3 vụ, từ 1.017 mẫu giống G0 (ruộng vật liệu khởi đầu) của giống tỏi Phan Rang, 210 mẫu giống tỏi G1 (ruộng các dòng ưu tú chọn được ở G0) đã được tuyển chọn và phục tráng được 7 dòng hỗn L1, L2, L3, L4, L5, L6, L7 (L: lô thí nghiệm) của giống tỏi Phan Rang đạt cấp siêu nguyên chủng với số lượng củ tỏi phục tráng được là 8.180 củ, tương đương 167 kg giống tỏi Phan Rang thuần chủng. Năng suất của các dòng đơn trong dòng hỗn đạt từ 10,6 đến 10,9 tấn/ha, cao hơn đối chứng chưa phục tráng từ 30,9 đến 39,5%.
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở tiềm năng đất đai tại thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Tóm tắt
Bài báo được thực hiện nhằm xác định tiềm năng đất đai về tự nhiên, kinh tế làm cơ sở đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp mang tính bền vững cho thị xã Tịnh Biên. Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai của The Food and Agriculture Organization [FAO] (1976, 2007) được áp dụng nhằm xác định khả năng thích nghi tự nhiên và kinh tế cho các loại hình sử dụng đất nông nghiệp. Kết quả có 05 vùng thích nghi đất đai tự nhiên, 08 vùng thích nghi đất đai kinh tế kết hợp tự nhiên được xây dựng cho sáu kiểu sử dụng đất từ 10 đơn vị đất đai. Thông qua đó, ba vùng sản xuất nông nghiệp được đề xuất với các loại hình sử dụng đất được chọn lựa và ưu tiên khi thực hiện triển đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, các giải pháp khắc phục các yếu tố giới hạn đến khả năng thích nghi đất đai về công trình và phi công trình cũng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khai thác tài nguyên đất đai mang tính bền vững trong điều kiện ngập lũ, khô hạn và đất nhiễm phèn.
Hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất cải xanh (Brassica juncea) và đặc tính đất ở thực tế đồng ruộng tại thành phố Cần Thơ
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất của cải xanh và đặc tính đất tại Thành phố Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Kết quả qua ba vụ thí nghiệm cho thấy, hai dòng vi khuẩn MT6 và HH5 giúp giảm 25% phân bón hóa học, đồng thời cải thiện chiều cao cây, chiều dài lá, chỉ số SPAD của lá, năng suất và sinh khối khô của cải xanh, đặc biệt giúp giảm hàm lượng nitrat tích lũy trong thân cây. Dòng vi khuẩn MT6 kích thích chiều dài rễ, tăng năng suất và sinh khối khô tốt hơn dòng vi khuẩn HH5. Cả hai dòng vi khuẩn đều giúp cải thiện P hữu dụng, EC và pH trong đất so với nghiệm thức chỉ bón phân hóa học. Đặc biệt, dòng vi khuẩn MT6 giúp tăng Pts trong thân và Phd trong đất. Ngoài ra, các nghiệm thức có chủng vi khuẩn cũng giúp cải thiện mật số vi khuẩn cố định đạm, hòa tan lân và silic trong đất.
Ảnh hưởng của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa vụ hè thu trên nền đất lúa-tôm trong điều kiện nhà lưới
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) cố định đạm (N) đến sinh trưởng và năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2023 trồng trên một số nền đất nhiễm mặn lúa - tôm của Châu Thành - Trà Vinh, Mỹ Xuyên - Sóc Trăng, Thới Bình - Cà Mau và An Biên - Kiên Giang trong điều kiện nhà lưới. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong đó, nhân tố A là bốn mức bón phân N (100, 75, 50, 0% N theo công thức khuyến cáo 100N-60P2O5-30K2O) và nhân tố B là PNSB cố định N, Rhodobacter sphaeroides (không bổ sung vi khuẩn, bổ sung dòng đơn R. sphaeroides S01, dòng đơn R. sphaeroides S06 và hỗn hợp hai dòng vi khuẩn R. sphaeroides S01 và S06), với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 8 cây/chậu. Kết quả cho thấy việc bổ sung vi khuẩn R. sphaeroides S01, S06 đã cải thiện chiều cao cây lúa (2,60 - 24,3%), chiều dài bông (4,42 - 14,3%), số bông/chậu (7,48 - 25,4%), số hạt chắc/bông (3,11 - 40,4%), tỷ lệ hạt chắc (0,68 - 23,6%) và năng suất hạt lúa (7,03 - 69,9%) trên nền đất của 4 vùng nghiên cứu.
Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phần giáo dục quốc phòng và an ninh tại Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Việc nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQPAN) tại Đại học Cần Thơ hiện nay là cần thiết vì đây là nhóm học phần bắt buộc cho tất cả sinh viên bậc đại học, trong đó công nghệ thông tin (CNTT) được ứng dụng trong dạy học là một giải pháp được chú trọng. Để đánh giá đúng thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học học phần GDQPAN, từ đó tìm ra giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học, trong đó 30 giảng viên giảng dạy và 309 sinh viên đang học tập tại Trung tâm GDQPAN, Đại học Cần Thơ đã được khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn 11 giảng viên. Kết quả cho thấy thực trạng hạn chế trong ứng dụng CNTT trong dạy học học phần GDQPAN có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó nội dung và phương pháp ứng dụng trong giảng dạy của giảng viên (GV) là nhân tố quan trọng. Từ thực trạng đó, một số giải pháp đã được đề xuất như cần phải đổi mới, ứng dụng CNTT trong dạy học học phần GDQPAN.
Hoạt động học tập của lưu học sinh ở Trường Cao Đẳng An ninh nhân dân I, Bộ Công an
Tóm tắt
Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng hoạt động học tập (HĐHT) của lưu học sinh (LHS) tại Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I, Bộ Công an. Trong nghiên cứu, HĐHT được tiếp cận theo cấu trúc gồm các thành tố: nhận thức về tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, điều kiện tổ chức và kiểm tra – đánh giá kết quả. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu được áp dụng trên mẫu gồm 55 cán bộ quản lý, 80 giảng viên và 250 LHS. Kết quả cho thấy, HĐHT của LHS được thực hiện ở mức độ “thường xuyên” và đạt hiệu quả “khá” trên tất cả các thành tố khảo sát. Tuy nhiên, điểm trung bình hiệu quả ở mỗi thành tố đều thấp hơn so với điểm trung bình mức độ thực hiện, phản ánh khoảng cách giữa triển khai và kết quả đạt được. Các thành tố như kiểm tra – đánh giá và phương pháp học tập còn nhiều hạn chế, cần cải thiện. Trên cơ sở đó, các khuyến nghị đã được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng HĐHT của LHS thông qua việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả và phù hợp với đặc thù LHS đối với từng thành tố cấu trúc HĐHT trong nhà trường.
Phát triển năng lực khoa học của học sinh thông qua dạy học nội dung "Không khí" trong môn Khoa học 4 bằng truyện tranh khoa học
Tóm tắt
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, việc chọn hình thức dạy học phù hợp ở tiểu học là cần thiết. Bài học “Không khí” trong môn Khoa học lớp 4 thường gây khó khăn cho học sinh trong hình dung và vận dụng kiến thức thực tiễn. Việc thiết kế và thử nghiệm dạy học bằng truyện tranh khoa học trong nghiên cứu nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh tiểu học. Dựa vào lí luận truyện tranh khoa học và tiếp cận kiến tạo, truyện “Hành trình truy tìm hơi thở xanh” được xây dựng và áp dụng với hai nhóm học sinh tại một trường tiểu học. Kết quả phân tích định lượng cho thấy lớp thực nghiệm đạt kết quả học tập cải thiện so với lớp đối chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), đồng thời thể hiện tiến bộ đồng đều giữa học sinh. Tính khả thi và hiệu quả của truyện tranh khoa học được khẳng định trong nghiên cứu như công cụ dạy học tích cực, góp phần phát triển tư duy và năng lực khoa học học sinh.
Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Tóm tắt
Trong những năm qua, công tác bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường trung học cơ sở đã bắt đầu được chú trọng, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn hạn chế. Việc tư vấn tâm lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của giáo viên, thiếu vắng các kỹ năng chuyên môn bài bản. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn qua bảng hỏi với 45 cán bộ quản lý, 450 giáo viên, 300 phụ huynh và 300 học sinh tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông. Phần mềm SPSS 22.0 được sử dụng làm phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ thực trạng về công tác bồi dưỡng, chỉ ra các điểm mạnh và yếu. Từ đó, các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.
Hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa - trường hợp chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tập trung phân tích hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa (BCĐH), đặc biệt là các tác phẩm được đăng tải ở chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam hiện nay. Trong bài báo này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thói quen tiêu thụ, nghiên cứu sự đánh giá của công chúng về ưu điểm và hạn chế của BCĐH ở chuyên mục này. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với BCĐH cũng đã được thực hiện, bao gồm: yếu tố của BCĐH, yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Ngoài ra, các biện pháp phù hợp cũng đã được đề xuất trong nghiên cứu nhằm giúp nâng cao chất lượng BCĐH, giúp thông tin được truyền tải hiệu quả, dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng công chúng trong thời đại số.
Đặc điểm sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XXI
Tóm tắt
Bài viết được thực hiện nhằm làm rõ đặc điểm của sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XXI. Thông qua việc phân tích một số tác phẩm văn học tiêu biểu, kết quả cho thấy các nhà văn sử dụng trải nghiệm cá nhân lồng ghép với hư cấu nghệ thuật như một phương thức thể hiện nghệ thuật, nhằm diễn đạt cái tôi, khám phá đời sống nội tâm và phản ánh những chuyển biến tinh thần trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cách tiếp cận này không chỉ làm nổi bật giá trị biểu đạt của hình thức kết hợp tự truyện và hư cấu, mà còn góp phần khẳng định vai trò trung tâm của cái tôi cá nhân trong sáng tạo văn chương Việt Nam thế kỷ XXI, đồng thời cho thấy những thay đổi đáng kể trong tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này.
Văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay: Theo kịp thời đại nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc
Tóm tắt
Bài viết được thực hiện nhằm phân tích sự chuyển mình của văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay trong hành trình bắt nhịp với thời đại mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Với tư duy nghệ thuật đổi mới, kỹ thuật viết hiện đại và sự mở rộng đề tài đã giúp văn học phản ánh sâu sắc đời sống đương đại. Các thủ pháp như dòng ý thức, kết cấu phi tuyến hay thủ pháp liên văn bản được vận dụng linh hoạt, góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà. Dù chịu tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hiện đại hóa, cốt lõi văn hóa dân tộc vẫn được gìn giữ thông qua việc bảo tồn những yếu tố đặc trưng trong sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật. Quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam không diễn ra theo hướng vay mượn thụ động, mà là sự tiếp biến có chọn lọc và sáng tạo. Nhờ đó, sáng tạo nghệ thuật trong văn học thời kì đổi mới vừa bắt nhịp với thời đại vừa giữ được chiều sâu văn hóa Việt.
Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng thành phố Cần Thơ
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 203 du khách, bộ tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định T-Test và kiểm định phương sai. Kết quả có ba nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động du lịch bao gồm: yếu tố hấp dẫn, chất lượng dịch vụ và môi trường. Đáng chú ý, mức độ hài lòng thay đổi sau trải nghiệm ảnh hưởng tích cực đến ý định quay lại và giới thiệu điểm đến của du khách. Ngoài ra, kết quả cho thấy không có sự khác biệt ở mức độ hài lòng của đặc điểm nhân khẩu học. Trong nghiên cứu, một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách góp phần phát triển du lịch chợ nổi Cái Răng bền vững cũng đã được đề ra.
Nghiên cứu tác động của marketing kể chuyện thương hiệu đến tài sản thương hiệu ô tô qua điều tiết của tính cách thương hiệu
Tóm tắt
Ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng là thị trường đầy tính cạnh tranh. Để thu hút khách hàng và định vị tốt thương hiệu, các hãng xe nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp marketing truyền thông khác nhau bao gồm những phương thức tiếp thị kỹ thuật số hiện đại hay xây dựng các nội dung quảng bá hấp dẫn và sáng tạo, trong đó có marketing kể chuyện thương hiệu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét mối quan hệ tác động của marketing kể chuyện thương hiệu đối với tài sản thương hiệu ô tô dựa trên cảm nhận của người tiêu dùng qua vai trò điều tiết quan trọng của nhân tố tính cách thương hiệu. Với dữ liệu được thu thập từ 256 phản hồi hữu ích của những cá nhân đã từng mua xe ô tô có tham gia trên nền tảng truyền thông xã hội và được xử lý qua phần mềm SmartPLS, kết quả cho thấy marketing kể chuyện thương hiệu có tác động cùng chiều đến tài sản thương hiệu ô tô qua tác động điều tiết tích cực của tính cách thương hiệu. Trên cơ sở đó, một số hàm ý quản trị tương ứng đã được đề xuất trong nghiên cứu.
Thực hành hoạt động xanh đến hiệu suất môi trường ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết chính sách, sản phẩm, nhân viên
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của thực hành hoạt động xanh của nhân viên đến hiệu suất môi trường tại các ngân hàng thương mại ở thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tuyến từ 375 nhân viên chuyên trách ngân hàng xanh tại 16 ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2024, dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất môi trường gồm: hoạt động chính sách ngân hàng (0,313), thực hành hoạt động nhân viên (0,312) và phát triển sản phẩm xanh (0,292). Vai trò điều tiết quan trọng của ba yếu tố này trong việc nâng cao hiệu suất bảo vệ môi trường được xác định trong nghiên cứu. Cụ thể, việc thực hành tại cơ sở và hoạt động khách hàng tác động trực tiếp đến thực hành hoạt động nhân viên, phát triển sản phẩm xanh và chính sách ngân hàng; từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất môi trường. Kết quả là bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa thực hành hoạt động xanh và hiệu suất môi trường, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển ngân hàng xanh.