Hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa - trường hợp chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam

Nguyễn Trường Duy, Bùi Thanh Thảo*
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tập trung phân tích hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa (BCĐH), đặc biệt là các tác phẩm được đăng tải ở chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam hiện nay. Trong bài báo này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thói quen tiêu thụ, nghiên cứu sự đánh giá của công chúng về ưu điểm và hạn chế của BCĐH ở chuyên mục này. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với BCĐH cũng đã được thực hiện, bao gồm: yếu tố của BCĐH, yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Ngoài ra, các biện pháp phù hợp cũng đã được đề xuất trong nghiên cứu nhằm giúp nâng cao chất lượng BCĐH, giúp thông tin được truyền tải hiệu quả, dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng công chúng trong thời đại số.

Đặc điểm sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XXI

Nguyễn Hồng Đan*, Nguyễn Bạch Đan
Tóm tắt
Bài viết được thực hiện nhằm làm rõ đặc điểm của sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XXI. Thông qua việc phân tích một số tác phẩm văn học tiêu biểu, kết quả cho thấy các nhà văn sử dụng trải nghiệm cá nhân lồng ghép với hư cấu nghệ thuật như một phương thức thể hiện nghệ thuật, nhằm diễn đạt cái tôi, khám phá đời sống nội tâm và phản ánh những chuyển biến tinh thần trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cách tiếp cận này không chỉ làm nổi bật giá trị biểu đạt của hình thức kết hợp tự truyện và hư cấu, mà còn góp phần khẳng định vai trò trung tâm của cái tôi cá nhân trong sáng tạo văn chương Việt Nam thế kỷ XXI, đồng thời cho thấy những thay đổi đáng kể trong tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này.

Thiết kế và đánh giá tính khả thi của mô đun thu phổ tương tác tự động cho đánh giá nhanh độ ngọt của quả quýt

Lâm Lâm Văn Linh, Nguyễn Nguyễn Định Trí, Lê Lê Thành Trung, Nguyễn Nguyễn Hoàng Tiến, Phan Thanh Lương, Trần Nhựt Thanh, Nguyễn Chánh Nghiệm*
Tóm tắt
Nghiên cứu trình bày thiết kế và đánh giá tính khả thi của mô đun thu phổ tương tác tự động dùng quang phổ cận hồng ngoại (NIR) để đánh giá độ ngọt quả quýt. Hệ thống tích hợp cơ cấu kẹp–xoay mẫu, đầu thu tịnh tiến với nguồn sáng vòng và buồng tối, cho phép thu phổ tự động tại nhiều vùng đo. So với thu phổ thủ công, thời gian đo giảm từ ~40 s xuống 17,7 s mỗi quả, tương ứng giảm 55,75%, đồng thời cải thiện độ ổn định phổ. Mô hình dự đoán độ ngọt (°Brix) từ 300 phổ trung bình của 75 quả quýt đạt RPD cao nhất 1,65, cho thấy tiềm năng ứng dụng của hệ thống trong đánh giá nhanh, không phá hủy chất lượng trái cây.

Nhận dạng và định vị vị trí bất thường của mối hàn dựa trên mô hình FastFlow và Patchcore-Lite

Nguyễn Đức Tài, Lê Việt Phương, Tô Thanh Tuần, Nguyễn Hoàng Dũng*
Tóm tắt
Mối hàn là vị trí dễ phát sinh hư hỏng trong kết cấu cơ khí, đặc biệt khi bề mặt mối hàn tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Việc kiểm tra thủ công với số lượng lớn dễ dẫn đến sai sót. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp nhận dạng và định vị bất thường trên ảnh bề mặt mối hàn trong vùng quan tâm (ROI) dựa trên hai mô hình học sâu FastFlow và PatchCore-Lite. Bộ dữ liệu gồm 5.451 ảnh được chuẩn hóa về kích thước 512×512 pixels. Mỗi ảnh có mặt nạ mối hàn (weld mask), trong khi các ảnh bất thường có thêm mặt nạ lỗi (defect mask) làm dữ liệu chuẩn (ground truth). Kết quả thực nghiệm cho thấy PatchCore-Lite đạt hiệu quả tốt hơn ở mức nhận dạng bất thường với AUROC = 0,8978, trong khi FastFlow cho kết quả tốt hơn ở định vị trong ROI với FPR = 0,01875, Dice = 0,04175 và IoU = 0,02161. Nghiên cứu là cơ sở cho việc phát triển các phương pháp kiểm tra tự động lỗi bề mặt mối hàn trong điều kiện dữ liệu lỗi hạn chế.

Hiệu quả xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm kết hợp hút chân không và gia tải trước: Nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp công nghệ cao Long Thành

Phạm Hữu Hà Giang*, Lê Ngọc Tân, Trần Đức Khanh, Bùi Quang Trung, Nguyễn Trung Nghĩa, Đào Xuân Bằng, Huỳnh Văn Hiệp
Tóm tắt
Bài báo trình bày nghiên cứu xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm (PVD) kết hợp hút chân không và gia tải trước tại khu công nghiệp Long Thành, Đồng Nai. Hiệu quả xử lý được đánh giá thông qua số liệu quan trắc hiện trường kết hợp phân tích giải tích và mô phỏng số. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu cơ lý của đất được cải thiện rõ rệt sau xử lý. Cụ thể, độ ẩm tự nhiên giảm 25,5% và hệ số rỗng giảm 29,2%, trong khi sức kháng cắt không thoát nước và áp lực tiền cố kết tăng lần lượt 20,1% và 26,0%, cho thấy nền đất trở nên chặt hơn và khả năng chịu tải được nâng cao. Số liệu quan trắc cho thấy nền đạt khoảng 90% độ cố kết sau khoảng 70 ngày khi áp dụng hệ số vượt tải thiết kế khoảng 1,2 lần tải khai thác. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi tăng hệ số vượt tải lên khoảng 1,4 lần, thời gian đạt độ cố kết mục tiêu có thể rút ngắn khoảng 15%, trong khi tổng độ lún thay đổi không đáng kể.

Dự đoán độ ngọt dưa lưới sử dụng phổ kế mini C11708MA

Phan Thị Hồng Châu, Võ Thị Tú Trinh, Lê Minh Hoàng, Lương Vinh Quốc Danh, Nguyễn Chánh Nghiệm*
Tóm tắt
Khả năng ứng dụng phổ kế mini C11708MA trong dự đoán không phá hủy độ ngọt (°Brix) của dưa lưới được đánh giá trong nghiên cứu. Phổ kế được tích hợp với vi điều khiển STM32 để thu nhận và truyền dữ liệu phổ về máy tính, nơi mô hình học máy được sử dụng để dự đoán °Brix. Phổ trong dải 640–1050 nm được thu thập từ 50 quả dưa lưới theo chiến lược lấy mẫu đa điểm. Các kỹ thuật tiền xử lý như lọc Savitzky–Golay, biến chuẩn hóa, hiệu chỉnh tán xạ nhân và các tổ hợp của chúng được áp dụng trước khi xây dựng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu từng phần (PLS) và vector hỗ trợ (SVR). Kết quả cho thấy SVR thường cho hiệu suất tốt hơn PLS, với RPD khoảng 1,7–1,8, cho thấy khả năng dự đoán chấp nhận được cho các ứng dụng sàng lọc nhanh. Kết quả này tương đương một số nghiên cứu trước đây sử dụng phổ kế mini, cho thấy tiềm năng phát triển thiết bị quang phổ cầm tay chi phí thấp cho đánh giá nhanh chất lượng nông sản.

So sánh thực nghiệm đặc tính khởi động và khả năng phát điện của các turbine gió trục đứng trong điều kiện gió thấp

Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Chánh Nghiệm, Quách Ngọc Thịnh, Trần Trung Tính*
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh thực nghiệm đặc tính khởi động và khả năng phát điện của bốn dạng turbine gió trục đứng quy mô nhỏ gồm Aeroleaf cải tiến, Savonius xoắn, Darrieus và SH-200R trong điều kiện gió thấp. Các mô hình được thiết kế cùng diện tích quét (~0,305 m²) và sử dụng chung hệ thống máy phát để đảm bảo tính khách quan. Thí nghiệm được thực hiện ở ba cấp độ gió thấp; các chỉ tiêu gồm tốc độ gió khởi động, tốc độ quay và điện áp đầu ra được lấy trung bình từ bốn lần đo. Kết quả cho thấy Aeroleaf cải tiến có tốc độ gió khởi động trung bình thấp nhất (2,54 m/s) và đạt tốc độ quay (164,75 vòng/phút) và điện áp ra (16,1 V) cao nhất. Sự khác biệt được giải thích bởi đặc tính khí động lai giữa lực cản và lực nâng của cánh Aeroleaf cải tiến, giúp nâng cao khả năng tự khởi động và phát điện trong vùng gió thấp.

Thiết kế điều khiển cầu trục 3D có xét đến ma sát

Phan Trọng Nghĩa*, Sơn Trường Nhân, Lê Văn Lẻ, Ngô Quang Hiếu
Tóm tắt
Bài báo trình bày thiết kế bộ điều khiển chế độ trượt cho hệ cầu trục container ba chiều có xét đến ảnh hưởng của lực ma sát giữa bánh xe và ray chuyển động. Lực ma sát được mô hình hóa theo mô hình Coulomb–nhớt có hiệu chỉnh nhằm mô tả liên tục đặc tính ma sát trong vùng vận tốc thấp và phản ánh bất định tham số trong phạm vi ±10%. Trên cơ sở mô hình động lực học phi tuyến xây dựng bằng phương pháp Lagrange, một luật điều khiển chế độ trượt được đề xuất để bù trực tiếp bất định ma sát và nhiễu tương đương, đồng thời sử dụng hàm hyperbolic tangent để giảm hiện tượng rung giật của tín hiệu điều khiển trong triển khai thực tế. Phân tích theo Lyapunov cho thấy hệ vòng kín đảm bảo ổn định; với hàm tanh(·), hệ đạt ổn định thực dụng quanh mặt trượt. Kết quả mô phỏng MATLAB/Simulink cho thấy hệ đạt thời gian hội tụ khoảng 10–13 s, góc dao động tải nhỏ hơn 3° và duy trì độ bền vững dưới nhiễu tham số ±5%. Các kết quả thu được cho thấy phương pháp được đề xuất có tiềm năng ứng dụng cho các hệ cầu trục ba chiều trong điều kiện có ma sát và bất định mô hình.

Nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số khoan laser đến đường kính và độ côn trên thép không gỉ AISI 304 dày 0,1 mm

Nguyễn Hoài Tân*, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Tuấn Vũ, Tô Lê Hoàng Phúc, Trần Quách Anh Thủ, Đỗ Hữu Trí, Nguyễn Văn Tài
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát tác động của công suất laser (P), tần số xung (f) và vận tốc quét (v) đến chất lượng lỗ khoan 400 μm trên vật liệu thép không gỉ AISI 304 có độ dày 0,1 mm. Dựa trên 27 tổ hợp thực nghiệm, kết quả cho thấy độ côn dao động trong khoảng 5,2o – 13,7o. Sai lệch đường kính so với kích thước thiết kế được ghi nhận ở mức 1 – 15 μm. Phân tích ANOVA xác định mối quan hệ giữa các thông số khoan (công suất, tần số, vận tốc) và các chỉ tiêu chất lượng (sai lệch đường kính, độ côn) mang tính chất phi tuyến rõ rệt. Mỗi thông số có mức độ đóng góp và cơ chế tác động riêng biệt lên từng đặc tính hình học của lỗ khoan laser. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy trình gia công mà còn mở ra tiềm năng thay thế các phương pháp đặc biệt có chi phí cao trong sản xuất vi linh kiện thuộc lĩnh vực điện tử và y sinh.

Nghiên cứu dự đoán độ nhám bề mặt nhôm 6061 khi đánh bóng bằng laser xung với mô hình Multilayer Perceptron (MLP)

Nguyễn Hoài Tân, Nguyễn Văn Cương, Huỳnh Tuấn Cường Em, Nguyễn Thanh Thảo, Trần Văn Trường Hải, Nguyễn Nhựt Băng, Nguyễn Văn Tài*
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung phân tích ảnh hưởng của các thông số quá trình bao gồm công suất laser (P), tốc độ quét (v) và tần số xung (f) đến độ nhám bề mặt hợp kim nhôm 6061 trong quy trình đánh bóng bằng laser Nd:YAG xung. Thí nghiệm được thiết lập đầy đủ với 27 tổ hợp và đánh giá độ nhám theo hai phương (Rax và Ray). Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy Rax chịu ảnh hưởng chi phối của tốc độ quét, trong khi Ray phụ thuộc chủ yếu vào công suất laser. Đặc biệt, hiệu ứng tương tác P–v cũng cho thấy ý nghĩa thống kê đáng kể đối với độ nhám bề mặt. Hai mô hình Multilayer Perceptron (MLP) riêng biệt đã được xây dựng để dự đoán hai thông số độ nhám bề mặt Rax và Ray. Kết quả huấn luyện cho cả hai mô hình đều đạt độ chính xác cao trên tập kiểm tra với R² lần lượt là 0,964 cho Rax và 0,961 cho Ray. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa thông số đánh bóng bằng laser trên hợp kim nhôm 6061.

Nghiên cứu khả năng xử lý malachite green trong nước của vật liệu lưỡng kim Cuzn-ZIFs

Nguyễn Ngọc Yến, Huỳnh Ngọc Như, Ngô Ngọc Nhật Vương, Hồ Ngọc Tri Tân, Đặng Huỳnh Giao*
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, vật liệu lưỡng kim CuZn-ZIFs đã được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt dung môi và được đánh giá khả năng xử lý thuốc nhuộm malachite green trong nước. Các đặc tính cấu trúc, hình thái và tính chất hóa lý của CuZn-ZIFs được xác định thông qua các phương pháp như PXRD, FT-IR, SEM, TGA, BET và EDX. CuZn-ZIFs thể hiện hình thái đa diện đặc trưng, độ bền nhiệt cao lên đến khoảng 350°C và diện tích bề mặt riêng đạt 1286 m2/g. Hiệu suất xử lý malachite green đạt 98,7% khi có sự hiện diện của 0,3 g/L CuZn-ZIFs và 0,1 g/L potassium peroxydisulfate trong 20 phút ở nhiệt độ phòng. Sau bốn chu kỳ tái sử dụng, vật liệu vẫn duy trì hiệu suất loại bỏ trên 85%, cho thấy khả năng thu hồi và tái sử dụng hiệu quả.

Thu hồi Al(III), Ni(II), và MG(II) từ dung dịch giả hòa tách hcl của xúc tác thải bằng phương pháp kết tủa chọn lọc

Nguyễn Việt Nhẩn Hòa*, Trần Thanh Tuấn, Lê Ngọc Thạch, Lê Ngọc Hân, Đoàn Văn Hồng Thiện, Hồ Quốc Phong, Nguyễn Thị Bích Thuyền, Lương Huỳnh Vủ Thanh
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, Al(III), Ni(II) và Mg(II) từ dung dịch giả hòa tách HCl của xúc tác thải steam reforming được thu hồi lần lượt bằng phương pháp kết tủa chọn lọc. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu suất thu hồi kim loại cũng được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy >99,0% Al(III) được thu hồi ở dạng γ-Al2O3 với độ tinh khiết 95,5% sau khi được kết tủa bởi Na2CO3, ở điều kiện pH 6,8, 80°C, 30 phút và nung ở 500oC trong 2 giờ. Tiếp theo, >99,9% Ni(II) từ dịch lọc chứa Mg(II) được kết tủa đến Ni(OH)2NiOOH bởi NaClO ở pH 8, tỷ lệ mol 1:2 của Ni(II):NaClO, 30 phút, 30oC  và độ tinh khiết của kết tủa là 98,5%. Trong khi đó, hiệu quả kết tủa NiS là thấp, chỉ đạt

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống giám sát an ninh tích hợp IoT

Võ Thị Phương Loan, Lê Thị Bảo Trâm, Nguyễn Đăng Khoa, Phan Bình Minh, Nguyễn Đình Tứ*
Tóm tắt
Một hệ thống an ninh thông minh, tập trung vào giải quyết các hạn chế của hệ thống truyền thống, tăng cường khả năng phát hiện và cảnh báo sớm các mối đe dọa được đề xuất trong nghiên cứu. Hệ thống đề xuất bao gồm các thành phần chính như: thiết bị sử dụng mô-đun cho Internet vạn vật (IoT – Internet of Things), camera, thuật toán để nhận dạng đối tượng, công nghệ RFID kiểm soát quyền truy cập vào các khu vực khác nhau và phần mềm quản lý tập trung để hỗ trợ hoạt động bảo mật, giám sát. Kết quả cho thấy hệ thống có khả năng cải thiện tính toàn diện cho quá trình bảo mật trong thời gian thực có độ chính xác trên 80%, với các tính năng như: cải thiện độ chính xác, tối ưu hóa tốc độ xử lý và cung cấp giải pháp quản lý tập trung qua phần mềm. Qua đó, khẳng định tiềm năng của ứng dụng công nghệ IoT và trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực an ninh, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các giải pháp bảo mật hiện đại hơn trong tương lai.

Nghiên cứu giải pháp quản lý chi phí cây xanh đô thị tại thành phố Cần Thơ

Mai Vũ Duy*, Bùi Mạnh Hùng
Tóm tắt
Nghị định 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý cây xanh đô thị, tạo khung pháp lý chung, phân cấp quản lý ban đầu, song còn một số hạn chế như: thiếu cụ thể về quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật dẫn đến thiếu đồng bộ trong quản lý,... và thiếu cơ chế huy động nguồn lực xã hội để phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Thông tư 12/2024/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định về nguyên tắc xác định và quản lý chi phí dịch vụ sự nghiệp công chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị, nhưng còn một số tồn tại như: định mức mang tính tham khảo gây khó khăn trong việc áp dụng thực tế, thiếu đồng bộ, minh bạch gây lãng phí nguồn lực, chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn phát triển của các dịch vụ này. Bài báo này được thực hiện giới hạn trong việc nghiên cứu giải pháp xác định định mức có tính áp dụng cao, đồng bộ về cách tính, hướng tới một hệ thống định mức chi phí trồng cây xanh hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi phí cây xanh đô thị tại Cần Thơ.

Cảnh quan thành phố Cần Thơ: Đặc điểm và xu hướng phát triển đô thị sinh thái bền vững

Châu Minh Khải*, Nguyễn Văn Tâm, Thái Thị Phương Mai, Nguyễn Văn Hải
Tóm tắt
Thành phố Cần Thơ là đô thị trung tâm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long , mang đậm bản sắc “đô thị sông nước” và được định hình bởi sông Hậu, kênh rạch và miệt vườn. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu, cảnh quan đô thị thành phố Cần Thơ chịu nhiều áp lực, bao gồm: ngập lụt, sạt lở, suy giảm mảng xanh và mai một bản sắc văn hóa. Trong nghiên cứu này, ba nhóm đặc điểm chính của cảnh quan Cần Thơ đã được phân tích, bao gồm: (i) tự nhiên – hệ sinh thái thủy văn, đất phù sa; (ii) nhân tạo – cấu trúc đô thị, hạ tầng, kiến trúc bản địa; (iii) văn hóa – xã hội – lối sống gắn liền với sông nước. Dựa trên lý thuyết sinh thái cảnh quan và việc tham khảo các mô hình đô thị sinh thái quốc tế, các định hướng sinh thái bền vững đã được đề xuất bao gồm: bảo tồn bản sắc sông nước, tăng cường hạ tầng xanh – lam, quản lý ngập lụt và sạt lở, ứng dụng công nghệ và thúc đẩy tham gia cộng đồng, hướng tới xây dựng Cần Thơ thành “đô thị sinh thái sông nước” thích ứng khí hậu.

Nghiên cứu thiết kế bộ điều khiển lực cho cánh tay robot 3 bậc tự do dựa trên mô hình trở kháng

Nguyễn Minh Huy, Nguyễn Thanh Nhã, Trịnh Quốc Thanh, Trần Đức Thiện*
Tóm tắt
Phương pháp điều khiển lực tiếp xúc cho cánh tay robot ba bậc tự do dựa trên mô hình trở kháng đã được đề xuất trong nghiên cứu này. Cấu trúc điều khiển kết hợp bộ điều khiển vị trí vi tích phân tỉ lệ (PID) và bộ điều khiển lực sử dụng phản hồi từ cảm biến lực nhằm đảm bảo bám quỹ đạo và điều chỉnh lực tương tác ổn định, phù hợp cho các ứng dụng gia công bề mặt như mài và đánh bóng. Hiệu quả của phương pháp được kiểm chứng thông qua mô phỏng trên MATLAB/Simulink và thí nghiệm thực tế trên cánh tay robot. Hiệu suất điều khiển lực được đánh giá bằng chỉ tiêu sai số bình phương trung bình (RMSE) giữa lực đặt và lực tiếp xúc thực tế. Kết quả mô phỏng cho thấy RMSE lực dưới 0,25 N, trong khi kết quả thực nghiệm đạt khoảng từ 1,0 N đến 1,25 N. Mặc dù sai số thực nghiệm lớn hơn so với mô phỏng, bộ điều khiển đề xuất vẫn đảm bảo tính ổn định và khả năng bám lực tốt trong điều kiện làm việc thực tế.

Chế tạo than sinh học biến tính từ vỏ mít thái phế phẩm ứng dụng hấp phụ Indigo carmine

Huỳnh Nhất Quý, Hà Mỹ Tiên, Nguyễn Minh Nhựt, Hồ Ngọc Tri Tân, Nguyễn Việt Nhẩn Hòa, Đặng Huỳnh Giao*
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, than sinh học (TSH) biến tính từ vỏ mít Thái được chế tạo bằng phương pháp nhiệt phân và đánh giá khả năng hấp phụ Indigo carmine (IC) trong môi trường nước giả thải. Các đặc trưng cấu trúc của TSH biến tính từ vỏ mít Thái (Bio-P500) được xác định bằng các phương pháp phân tích hiện đại như FT-IR, SEM, EDX và khả năng hấp phụ khí nitơ. Kết quả cho thấy vật liệu Bio-P500 có diện tích bề mặt riêng (1113,8 m2.g-1) và thể tích lỗ xốp lớn (1,2 cm3.g-1). Vật liệu Bio-P500 có hiệu suất hấp phụ IC lên đến 99,1% với dung lượng hấp phụ thu được là 39,7 mg.g-1 sau 60 phút ở nhiệt độ phòng. Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir đã mô tả tốt nhất trạng thái cân bằng hấp phụ với R2 = 0,994. Hơn nữa, kết quả động học hấp phụ cho thấy quá trình hấp phụ có lợi cho việc loại bỏ IC được kiểm soát bằng mô hình giả bậc một (PFO). Ngoài ra, vật liệu còn có khả năng tái sử dụng ba lần với hiệu suất hấp phụ trên 90%, thể hiện tiềm năng ứng dụng xử lý thuốc nhuộm trong nước thải công nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường cũng như phát triển công nghiệp gắn liền với hóa học xanh.

Điều khiển dự báo phi tuyến cho bám quỹ đạo và tránh vật cản động trên robot di động lái vi sai

Nguyễn Ngọc Thiện, Đoàn Lê Bảo Duy, Huỳnh Nguyễn Thanh Duy, Trần Đức Thiện*
Tóm tắt
Trong bài báo này, một phương pháp điều khiển dự báo mô hình phi tuyến (NMPC) cho robot di động hai bánh vi sai đã được đề xuất nhằm bảo đảm bám quỹ đạo và tránh vật cản động. Khung dự báo phi tuyến giúp xử lý tính phi tuyến của mô hình robot, nâng cao độ chính xác quỹ đạo và độ ổn định điều hướng. Bằng cách tích hợp các ràng buộc vận tốc tuyến tính và vận tốc góc, phương pháp mang lại chuyển động mượt mà và đáng tin cậy hơn. Các ràng buộc khoảng cách an toàn được đưa vào bài toán tối ưu NMPC để đảm bảo di chuyển an toàn, không va chạm trong môi trường động. Các mô phỏng trên mô hình robot 3D trong Gazebo (ROS) và thí nghiệm trên robot hai bánh thực tế được tiến hành và so sánh với phương pháp DWA. Kết quả cho thấy NMPC vượt trội hơn về độ chính xác bám quỹ đạo, độ mượt của chuyển động và hiệu quả tránh vật cản.

Ảnh hưởng của các loại màng ăn được đến chất lượng đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) tươi trong quá trình bảo quản

Tống Thị Ánh Ngọc*, Nguyễn Đức Tùng, Đặng Thị Thu Tâm
Tóm tắt
Đậu bắp là loại rau quả giàu dinh dưỡng, chứa nhiều vitamin, khoáng chất và hợp chất sinh học có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, do hàm lượng nước cao và đặc tính hô hấp mạnh, đậu bắp rất dễ hư hỏng sau thu hoạch, dẫn đến suy giảm nhanh chất lượng cảm quan và giá trị dinh dưỡng. Việc áp dụng các phương pháp bảo quản phù hợp, đặc biệt là màng bao ăn được, là cần thiết nhằm kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng sản phẩm. Do đó nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định ảnh hưởng của loại màng bao ăn được (đối chứng, CMC 1% và natri alginate 2%) đến chất lượng đậu bắp tươi trong quá trình bảo quản. Kết quả cho thấy việc sử dụng màng bao CMC 1% khi bảo quản đậu bắp có hiệu quả rõ rệt trong việc duy trì màu sắc và hạn chế sự suy giảm giá trị dinh dưỡng. Sau 14 ngày bảo quản ở nhiệt độ 13 ± 1 °C, hàm lượng vitamin C đạt 15,34 ± 6,03 mg/100 g CBK và hàm lượng chlorophyll đạt 15,60 ± 2,35 mg/g CBK, chứng tỏ các thành phần dinh dưỡng này vẫn được duy trì ở mức tương đối cao.

So sánh Checkerboard và ChArUco trong hiệu chuẩn máy ảnh cho ứng dụng hệ laser vision trên robot hàn

Trần Hoài Tâm, Ngô Quang Hiếu*, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Minh Thư
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích so sánh hai mẫu bảng Checkerboard và ChArUco trong bài toán hiệu chuẩn máy ảnh, cho bối cảnh ứng dụng hệ laser vision trên robot hàn công nghiệp, nhằm đánh giá hiệu năng và tiềm năng áp dụng trong các kịch bản tái hiệu chuẩn hướng tới thời gian thực. Một khung đánh giá thống nhất đã được xây dựng dựa trên mô hình máy ảnh lỗ kim với biến dạng Brown–Conrady, sử dụng cùng cấu hình máy ảnh–ống kính, tập tư thế bảng và điều kiện thu ảnh, trong đó có 03 kịch bản nhiễu (chói sáng, bị che khuất). Chỉ số đánh giá gồm: sai số tái chiếu RMS, tốc độ nhận dạng và tỷ lệ nhận dạng thành công. Kết quả cho thấy ma trận nội và hệ số biến dạng ước lượng là tương đương, với RMS đều nhỏ hơn 0,2 px. ChArUco vượt trội về khả năng nhận dạng trong điều kiện môi trường nhiễu, trong khi Checkerboard đạt tốc độ nhận dạng nhanh hơn (» 9,5 ms/ảnh so với » 19,5 ms/ảnh) nhưng không nhận dạng được ảnh có nhiễu. Các kết quả cho thấy ChArUco phù hợp hơn cho các kịch bản tái hiệu chuẩn nhanh cần độ bền nhận dạng cao trong môi trường công nghiệp có nhiều nhiễu.