Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Thư ngỏ của Tổng biên tập

Chào mừng đến với Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ! Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, ISSN 1859-2333, e-ISSN 2815-5599, là tạp chí được phản biện kín hai chiều, xuất bản các bài nghiên cứu và bài tổng quan chất lượng thuộc nhiều lĩnh vực...

Ứng dụng công nghệ IoT trong cảnh báo rò rỉ khí gas hộ gia đình

Phan Thị Xê Riêng, Lưu Trọng Hiếu, Nguyễn Chí Ngôn*
Tóm tắt | PDF
Bài bài trình bày một giải pháp ứng dụng công nghệ IoT trong phòng chống cháy nổ do rò rỉ khí gas hộ gia đình. Hệ thống gồm một ứng dụng trên điện thoại thông minh và một mạch IoT có khả năng điều khiển cấp nguồn các thiết bị, phát hiện rò rỉ khí gas và theo dõi nhiệt độ môi trường. Phần mềm ứng dụng điện thoại được xây dựng dựa trên công cụ Blynk, tiện lợi và dễ cài đặt trên các điện thoại phổ biến trên thị trường. Phần cứng bao gồm một vi điều khiển ESP8266 thu thập dữ liệu từ hai cảm biến nhiệt độ DS18B20 và cảm biến khí gas MQ-02. Vi điều khiển còn có thể báo động bằng còi và ngắt điện trong nhà thông qua một rơ-le trung gian. Phần mềm hệ thống của mạch IoT được tích hợp hàm bù sai số, được xác định bằng giải thuật bình phương tối thiểu Levenberg-Marquardt. Ngoài ra, dữ liệu đọc được từ cảm biến cũng được xử lý loại mẫu nhiễu có biên độ bất thường. Kết quả thực nghiệm cho thấy giải pháp ứng dụng công nghệ IoT có thể phát hiện rò rỉ khí gas và cảnh báo kịp thời, không xuất hiện tình trạng “cảnh báo giả” như các cảm biến gas phổ thông trên thị trường.

Ứng dụng công nghệ vi tảo loại bỏ đạm và lân trong nước thải ao nuôi tôm

Lâm Văn Tân, Nguyễn Phương Thảo, Nguyễn Công Danh, Phạm Thị Thúy Vi, Thành Trần*
Tóm tắt | PDF
Ngành nuôi tôm mang lại nhiều giá trị kinh tế cao nhưng cũng phát sinh nhiều chất thải và nước thải ra môi trường. Các phương pháp xử lý truyền thống có nhược điểm là tốn diện tích và chi phí năng lượng. Vì vậy, nghiên cứu về công nghệ xử lý nước phù hợp vừa tiết kiệm chi phí năng lượng vừa mang lại giá trị kinh tế là cần thiết. Nghiên cứu sử dụng tảo Chlorella vulgaris kết hợp với bể phản ứng quang sinh học màng (PMBR) để kiểm tra sự thích nghi trong môi trường nước mặn 13‰ và đánh giá khả năng xử lý nước thải nuôi tôm. Trong 40 ngày thí nghiệm, các chỉ số được phân tích như nitrat (N-NO3-), nitrit (N-NO2-), amoni (N-NH4+), phốt pho (P-PO43-); số lượng tế bào tảo (tế bào/mL) và sinh khối tảo (mg/mL) được kiểm soát trong toàn bộ mô hình. Kết quả ban đầu cho thấy tảo thuần chủng thích nghi tốt với độ mặn nước thải nuôi tôm, cao nhất ở mức hơn 11×106 tế bào/mL, tương đương sinh khối gần 600 mg/mL. Với chế độ chạy không tiêu tốn năng lượng cấp khí, hiệu suất khử N-NO2-, N-NO3-, N-NH4+, P-PO43- của mô hình với nước thải nuôi tôm lần lượt là 56, 76,15, 65 và 78,07%.

Ứng dụng vi bao giọt tụ trong công nghiệp thực phẩm

Hoàng Quang Bình*, Chế Mỹ Linh, Trịnh Ngọc Thảo Ngân, Lê Trung Thiên
Tóm tắt | PDF
Vi bao là phương pháp hiệu quả giúp bảo quản các chất sinh học. Thông qua cơ chế bao gói của các polymer có nguồn gốc từ protein, polysaccharide, các hợp chất tự nhiên (polyphenol, carotenoid, …) cũng như vi sinh vật có lợi (nấm men, probiotic) giúp bảo vệ trong các điều kiện bất lợi của môi trường. Ứng dụng các hạt vi bao trong chế biến thực phẩm giúp sản phẩm kéo dài thời gian sử dụng, nâng cao khả năng kháng oxy hóa và cải thiện khả năng sống sót của probiotic.

Hiệu quả của chế phẩm vi sinh NPISi lên sinh trưởng, năng suất hành lá và một số đặc tính đất phù sa ở điều kiện nhà lưới

Nguyễn Khởi Nghĩa*, Huỳnh Hiếu Hạnh, Đặng Thị Yến Nhung, Nguyễn Thị Kiều Oanh, Lê Thị Xã
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm khảo sát hiệu quả của chế phẩm vi sinh NPISi lên sinh trưởng, năng suất hành lá và một số đặc tính đất ở điều kiện nhà lưới. Chế phẩm vi sinh NPISi được bổ sung ở các mức 80, 60, 40 kg/ha kết hợp bón phân hóa học theo khuyến cáo 100N-85P2O5-40K2O và giảm 25% NP (75N-63,75P2O5-40K2O). Kết quả cho thấy nghiệm thức bổ sung 40 kg/ha chế phẩm NPISi kết hợp bón giảm 25% NP theo khuyến cáo làm gia tăng chiều cao cây, số lá, số chồi/bụi, đường kính thân, chiều dài thân và tăng khối lượng tươi của hành lá, đồng thời giúp cải thiện pH và EC đất cũng như làm gia tăng mật số vi khuẩn, vi khuẩn cố định đạm, vi khuẩn hòa tan lân và vi khuẩn hòa tan silic trong đất so với nghiệm thức bón phân theo khuyến cáo. Do vậy, chế phẩm vi sinh NPISi có thể sử dụng làm phân bón vi sinh cho cây hành nhằm giảm thiểu phân bón hóa học, giúp tăng năng suất hành lá thực hiện sản xuất nông nghiệp an toàn và bền vững.

Tiềm năng phát triển nông-lâm-thủy sản và kinh tế biển tỉnh kiên giang trong bối cảnh đồng bằng sông cửu long và kết nối quốc tế

Hà Thanh Toàn*, Nguyễn Thanh Bình, Văn Phạm Đăng Trí
Tóm tắt | PDF
Kiên Giang có tiềm năng phát triển nông - lâm - thủy sản và kinh tế biển. Trong những năm qua, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách nhằm mở rộng cơ hội khai thác tài nguyên đất, nước, rừng và biển để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức tài nguyên cùng với việc thâm canh tăng vụ đã làm tổn hại hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, trong bối cảnh của sự thay đổi chung của đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, nhiều cơ hội cũng như thách thức đã được tạo ra, có ảnh hưởng đáng kể đối với sự phát triển bền vững của tỉnh. Hiện trạng và tiềm năng sử dụng tài nguyên và môi trường cho phát triển nông - lâm - thủy sản và kinh tế biển của Kiên Giang được phân tích trong bài viết này; từ đó, đề xuất một số định hướng sử dụng bền vững tài nguyên trong tương lai nhưng vẫn bảo tồn và phát huy hiệu quả các dịch vụ hệ sinh thái bản địa.

Ảnh hưởng của boric acid lên sự nảy mầm của hạt phấn và khả năng đậu trái của một số giống dừa tại tỉnh Trà Vinh

Phạm Thị Phương Thúy*
Tóm tắt | PDF
Dừa giảm tỷ lệ đậu trái thường được nông dân gọi là hiện tượng “dừa treo”. Nhóm dừa cao thường xảy ra từ tháng 9 đến tháng 10, còn nhóm dừa lùn vào khoảng tháng 3 – 4 hàng năm. Boron cần cho sự nảy mầm của hạt phấn, tăng trưởng của ống phấn, rất cần cho hình thành tế bào và hạt giống. Kết quả nghiên cứu trên 2 giống dừa gồm dừa cao (sáp xanh, ta xanh), dừa lùn (xiêm lửa, xiêm lục, xiêm xanh) trồng tại xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh cho thấy tổng tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn đều đạt trên 50% khi bổ sung boric acid nồng độ 10 ppm ở cả 5 giống dừa sau khi cấy 36 giờ. Bổ sung nồng độ boric acid cao hơn 10 ppm thì có khuynh hướng giảm nảy mầm của hạt phấn nhưng chỉ có có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở dừa sáp xanh và xiêm lục. Nồng độ boric acid phun không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái dừa xiêm lục khi trùm hoặc không trùm phát hoa sau 30 ngày phun. Không trùm phát hoa có tỷ lệ đậu trái sau 30 ngày cao hơn so với trùm phát hoa.

Ảnh hưởng của các mức bổ sung dinh dưỡng lên sự sinh trưởng, hiệu suất và đặc tính gel agar của rong câu chỉ (gracilaria tenuistipitata) ở điều kiện thí nghiệm

Nguyễn Hoàng Vinh, Nguyễn Thị Ngọc Anh*, Trần Ngọc Hải
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung hàm lượng dinh dưỡng đến sinh trưởng và chất lượng agar của rong câu chỉ (Gracillaria tenuistipitata) ở điều kiện thí nghiệm. Sáu nghiệm thức bổ sung các mức dinh dưỡng được bố trí ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Nghiệm thức đối chứng không bổ sung dinh dưỡng, 5 nghiệm thức còn lại được bổ sung 5, 10, 15, 20 và 25 g/m3 với tần suất 1 lần/tuần, sử dụng phân vô cơ (urê và DAP, tỉ lệ N:P =10:1). Sinh khối rong ban đầu là 2 g/L, ở độ mặn 15‰. Sau 30 ngày, sinh khối và tăng trưởng của rong ở nghiệm thức 15 và 20 g/m3 đạt cao nhất và giảm ở mức bổ sung 25 g/m3. Hiệu suất và sức đông agar đạt cao nhất ở nghiệm thức đối chứng và thấp nhất ở nghiệm thức 25 g/m3, trong khi độ nhớt ở nghiệm thức đối chứng là thấp nhất. Nhiệt độ đông và nhiệt độ tan đông của agar khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các nghiệm thức bổ sung dinh dưỡng. Ngoài ra, hàm lượng protein của rong câu chỉ tương quan thuận với sự tăng mức bổ sung dinh dưỡng, ngược lại sức đông agar tương quan nghịch với hàm lượng protein của rong.

Nhận thức của sinh viên về tác động của việc làm thêm đối với các hoạt động học tập và sinh hoạt: Trường hợp của sinh viên ngoại ngữ, trường Đại học Cần Thơ

Nguyễn Thị Anh Thư*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này khảo sát thực trạng và ảnh hưởng của việc làm thêm đối với sinh hoạt và học tập của sinh viên Khóa 43-45, Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Cần Thơ. Đối tượng khảo sát là 275 sinh viên đã và đang làm thêm. Kết quả cho thấy đây là một hoạt động khá phổ biến và có ảnh hưởng đến đời sống của sinh viên: việc làm thêm (1) có nhiều ảnh hưởng tích cực đối với hoạt động sinh hoạt hơn hoạt động học tập, (2) có ảnh hưởng tiêu cực ở mức trung bình đối với hoạt động học tập và sinh hoạt, trong đó ảnh hưởng tiêu cực nhiều nhất là đối với sinh hoạt cá nhân, (3) làm thêm với thời lượng càng nhiều (≥2 giờ/ngày) thì tác động tiêu cực càng lớn, đặc biệt là sức khỏe của sinh viên. Các giải pháp phổ biến mà sinh viên áp dụng để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của việc đi làm thêm cũng được trình bày trong nghiên cứu này.