Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ

Khung điểm Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ năm 2025

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của 28 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành năm 2025. Theo đó, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ (https://ctujsvn.ctu.edu.vn/) được phê duyệt trong danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của 20 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành năm 2025. Trong đó, Tạp chí được 1 Hội đồng công nhận mới và 2 Hội đồng nâng điểm.

Đánh giá tác động và chi phí của vật liệu vỏ bao che biệt thự theo tiêu chuẩn EDGE tại Vĩnh Long

Lữ Thị Thúy Ái*, Đặng Thanh Hưng, Võ Thị Lệ Thi
Tóm tắt | PDF
Vỏ bao che có tác động trực tiếp đến năng lượng của nhà ở, đặc biệt là biệt thự - loại hình có mức tiêu thụ năng lượng cao. Việc cải thiện vật liệu vỏ bao che không chỉ giúp tiết kiệm năng lượng mà còn hạn chế tác động môi trường từ vật liệu. Một căn biệt thự điển hình tại Vĩnh Long được chọn làm trường hợp để nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng và năng lượng tích hợp trong vật liệu thông qua mô phỏng bằng công cụ EDGE App, kết hợp phân tích chi phí đầu tư làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp. Kết quả cho thấy giải pháp cân bằng giữa ba tiêu chí trên có mức tiết kiệm năng lượng tăng 34,93%, năng lượng tích hợp trong vật liệu cải thiện đến 28,02% với chi phí đầu tư gia tăng 2,71% so với công trình hiện trạng. Qua đó, kết quả nghiên cứu góp phần định hướng thiết kế, cải tạo biệt thự theo hướng hiệu quả năng lượng, giảm phát thải và tiến tới mục tiêu phát triển công trình bền vững tại Việt Nam.

So sánh Checkerboard và ChArUco trong hiệu chuẩn máy ảnh cho ứng dụng hệ laser vision trên robot hàn

Trần Hoài Tâm, Ngô Quang Hiếu*, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Minh Thư
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích so sánh hai mẫu bảng Checkerboard và ChArUco trong bài toán hiệu chuẩn máy ảnh, cho bối cảnh ứng dụng hệ laser vision trên robot hàn công nghiệp, nhằm đánh giá hiệu năng và tiềm năng áp dụng trong các kịch bản tái hiệu chuẩn hướng tới thời gian thực. Một khung đánh giá thống nhất đã được xây dựng dựa trên mô hình máy ảnh lỗ kim với biến dạng Brown–Conrady, sử dụng cùng cấu hình máy ảnh–ống kính, tập tư thế bảng và điều kiện thu ảnh, trong đó có 03 kịch bản nhiễu (chói sáng, bị che khuất). Chỉ số đánh giá gồm: sai số tái chiếu RMS, tốc độ nhận dạng và tỷ lệ nhận dạng thành công. Kết quả cho thấy ma trận nội và hệ số biến dạng ước lượng là tương đương, với RMS đều nhỏ hơn 0,2 px. ChArUco vượt trội về khả năng nhận dạng trong điều kiện môi trường nhiễu, trong khi Checkerboard đạt tốc độ nhận dạng nhanh hơn (» 9,5 ms/ảnh so với » 19,5 ms/ảnh) nhưng không nhận dạng được ảnh có nhiễu. Các kết quả cho thấy ChArUco phù hợp hơn cho các kịch bản tái hiệu chuẩn nhanh cần độ bền nhận dạng cao trong môi trường công nghiệp có nhiều nhiễu.

Ảnh hưởng của các loại màng ăn được đến chất lượng đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) tươi trong quá trình bảo quản

Tống Thị Ánh Ngọc*, Nguyễn Đức Tùng, Đặng Thị Thu Tâm
Tóm tắt | PDF
Đậu bắp là loại rau quả giàu dinh dưỡng, chứa nhiều vitamin, khoáng chất và hợp chất sinh học có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, do hàm lượng nước cao và đặc tính hô hấp mạnh, đậu bắp rất dễ hư hỏng sau thu hoạch, dẫn đến suy giảm nhanh chất lượng cảm quan và giá trị dinh dưỡng. Việc áp dụng các phương pháp bảo quản phù hợp, đặc biệt là màng bao ăn được, là cần thiết nhằm kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng sản phẩm. Do đó nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định ảnh hưởng của loại màng bao ăn được (đối chứng, CMC 1% và natri alginate 2%) đến chất lượng đậu bắp tươi trong quá trình bảo quản. Kết quả cho thấy việc sử dụng màng bao CMC 1% khi bảo quản đậu bắp có hiệu quả rõ rệt trong việc duy trì màu sắc và hạn chế sự suy giảm giá trị dinh dưỡng. Sau 14 ngày bảo quản ở nhiệt độ 13 ± 1 °C, hàm lượng vitamin C đạt 15,34 ± 6,03 mg/100 g CBK và hàm lượng chlorophyll đạt 15,60 ± 2,35 mg/g CBK, chứng tỏ các thành phần dinh dưỡng này vẫn được duy trì ở mức tương đối cao.

Điều khiển dự báo phi tuyến cho bám quỹ đạo và tránh vật cản động trên robot di động lái vi sai

Nguyễn Ngọc Thiện, Đoàn Lê Bảo Duy, Huỳnh Nguyễn Thanh Duy, Trần Đức Thiện*
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này, một phương pháp điều khiển dự báo mô hình phi tuyến (NMPC) cho robot di động hai bánh vi sai đã được đề xuất nhằm bảo đảm bám quỹ đạo và tránh vật cản động. Khung dự báo phi tuyến giúp xử lý tính phi tuyến của mô hình robot, nâng cao độ chính xác quỹ đạo và độ ổn định điều hướng. Bằng cách tích hợp các ràng buộc vận tốc tuyến tính và vận tốc góc, phương pháp mang lại chuyển động mượt mà và đáng tin cậy hơn. Các ràng buộc khoảng cách an toàn được đưa vào bài toán tối ưu NMPC để đảm bảo di chuyển an toàn, không va chạm trong môi trường động. Các mô phỏng trên mô hình robot 3D trong Gazebo (ROS) và thí nghiệm trên robot hai bánh thực tế được tiến hành và so sánh với phương pháp DWA. Kết quả cho thấy NMPC vượt trội hơn về độ chính xác bám quỹ đạo, độ mượt của chuyển động và hiệu quả tránh vật cản.

Chế tạo than sinh học biến tính từ vỏ mít thái phế phẩm ứng dụng hấp phụ Indigo carmine

Huỳnh Nhất Quý, Hà Mỹ Tiên, Nguyễn Minh Nhựt, Hồ Ngọc Tri Tân, Nguyễn Việt Nhẩn Hòa, Đặng Huỳnh Giao*
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, than sinh học (TSH) biến tính từ vỏ mít Thái được chế tạo bằng phương pháp nhiệt phân và đánh giá khả năng hấp phụ Indigo carmine (IC) trong môi trường nước giả thải. Các đặc trưng cấu trúc của TSH biến tính từ vỏ mít Thái (Bio-P500) được xác định bằng các phương pháp phân tích hiện đại như FT-IR, SEM, EDX và khả năng hấp phụ khí nitơ. Kết quả cho thấy vật liệu Bio-P500 có diện tích bề mặt riêng (1113,8 m2.g-1) và thể tích lỗ xốp lớn (1,2 cm3.g-1). Vật liệu Bio-P500 có hiệu suất hấp phụ IC lên đến 99,1% với dung lượng hấp phụ thu được là 39,7 mg.g-1 sau 60 phút ở nhiệt độ phòng. Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir đã mô tả tốt nhất trạng thái cân bằng hấp phụ với R2 = 0,994. Hơn nữa, kết quả động học hấp phụ cho thấy quá trình hấp phụ có lợi cho việc loại bỏ IC được kiểm soát bằng mô hình giả bậc một (PFO). Ngoài ra, vật liệu còn có khả năng tái sử dụng ba lần với hiệu suất hấp phụ trên 90%, thể hiện tiềm năng ứng dụng xử lý thuốc nhuộm trong nước thải công nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường cũng như phát triển công nghiệp gắn liền với hóa học xanh.

Nghiên cứu thiết kế bộ điều khiển lực cho cánh tay robot 3 bậc tự do dựa trên mô hình trở kháng

Nguyễn Minh Huy, Nguyễn Thanh Nhã, Trịnh Quốc Thanh, Trần Đức Thiện*
Tóm tắt | PDF
Phương pháp điều khiển lực tiếp xúc cho cánh tay robot ba bậc tự do dựa trên mô hình trở kháng đã được đề xuất trong nghiên cứu này. Cấu trúc điều khiển kết hợp bộ điều khiển vị trí vi tích phân tỉ lệ (PID) và bộ điều khiển lực sử dụng phản hồi từ cảm biến lực nhằm đảm bảo bám quỹ đạo và điều chỉnh lực tương tác ổn định, phù hợp cho các ứng dụng gia công bề mặt như mài và đánh bóng. Hiệu quả của phương pháp được kiểm chứng thông qua mô phỏng trên MATLAB/Simulink và thí nghiệm thực tế trên cánh tay robot. Hiệu suất điều khiển lực được đánh giá bằng chỉ tiêu sai số bình phương trung bình (RMSE) giữa lực đặt và lực tiếp xúc thực tế. Kết quả mô phỏng cho thấy RMSE lực dưới 0,25 N, trong khi kết quả thực nghiệm đạt khoảng từ 1,0 N đến 1,25 N. Mặc dù sai số thực nghiệm lớn hơn so với mô phỏng, bộ điều khiển đề xuất vẫn đảm bảo tính ổn định và khả năng bám lực tốt trong điều kiện làm việc thực tế.

Cảnh quan thành phố Cần Thơ: Đặc điểm và xu hướng phát triển đô thị sinh thái bền vững

Châu Minh Khải*, Nguyễn Văn Tâm, Thái Thị Phương Mai, Nguyễn Văn Hải
Tóm tắt | PDF
Thành phố Cần Thơ là đô thị trung tâm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long , mang đậm bản sắc “đô thị sông nước” và được định hình bởi sông Hậu, kênh rạch và miệt vườn. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu, cảnh quan đô thị thành phố Cần Thơ chịu nhiều áp lực, bao gồm: ngập lụt, sạt lở, suy giảm mảng xanh và mai một bản sắc văn hóa. Trong nghiên cứu này, ba nhóm đặc điểm chính của cảnh quan Cần Thơ đã được phân tích, bao gồm: (i) tự nhiên – hệ sinh thái thủy văn, đất phù sa; (ii) nhân tạo – cấu trúc đô thị, hạ tầng, kiến trúc bản địa; (iii) văn hóa – xã hội – lối sống gắn liền với sông nước. Dựa trên lý thuyết sinh thái cảnh quan và việc tham khảo các mô hình đô thị sinh thái quốc tế, các định hướng sinh thái bền vững đã được đề xuất bao gồm: bảo tồn bản sắc sông nước, tăng cường hạ tầng xanh – lam, quản lý ngập lụt và sạt lở, ứng dụng công nghệ và thúc đẩy tham gia cộng đồng, hướng tới xây dựng Cần Thơ thành “đô thị sinh thái sông nước” thích ứng khí hậu.

Nghiên cứu giải pháp quản lý chi phí cây xanh đô thị tại thành phố Cần Thơ

Mai Vũ Duy*, Bùi Mạnh Hùng
Tóm tắt | PDF
Nghị định 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý cây xanh đô thị, tạo khung pháp lý chung, phân cấp quản lý ban đầu, song còn một số hạn chế như: thiếu cụ thể về quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật dẫn đến thiếu đồng bộ trong quản lý,... và thiếu cơ chế huy động nguồn lực xã hội để phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Thông tư 12/2024/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định về nguyên tắc xác định và quản lý chi phí dịch vụ sự nghiệp công chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị, nhưng còn một số tồn tại như: định mức mang tính tham khảo gây khó khăn trong việc áp dụng thực tế, thiếu đồng bộ, minh bạch gây lãng phí nguồn lực, chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn phát triển của các dịch vụ này. Bài báo này được thực hiện giới hạn trong việc nghiên cứu giải pháp xác định định mức có tính áp dụng cao, đồng bộ về cách tính, hướng tới một hệ thống định mức chi phí trồng cây xanh hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi phí cây xanh đô thị tại Cần Thơ.

Đánh giá ảnh hưởng của nhiên liệu Diesel sinh học sản xuất từ bã cà phê phế thải đến hiệu suất và phát thải động cơ Diesel

Trần Văn Định*, Lê Văn Vang, Trương Thanh Hải, Nguyễn Hoài Tân, Phan Công Minh Toàn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu suất và phát thải của động cơ D229-4 sử dụng Biodiesel từ bã cà phê thải. Nhiên liệu Diesel và Biodiesel được pha trộn theo tỷ lệ 0%, 20%, 40% và 100%. Kết quả mô phỏng 1200 – 2400 vòng/phút cho thấy khi tăng tỷ lệ Biodiesel, hiệu suất giảm nhẹ, công suất và moment xoắn giảm 2 – 5% ở B20, B40 và 15 – 20% ở B100; suất tiêu hao nhiên liệu tăng 2 – 4% ở B20, B40 và 20 – 25% ở B100. Về phát thải khi sử dụng B20, B40 và B100, hàm lượng muội than, ,  giảm lần lượt khoảng 70 – 79%, 65 – 85% và 12 – 40%; riêng  tăng 3 – 10% ở B20 và B40, nhưng giảm 45 – 65% ở B100. Kết quả cho thấy Biodiesel từ bã cà phê là một nguồn nhiên liệu tái tạo tiềm năng, không cạnh tranh với lương thực và góp phần đáng kể làm giảm ô nhiễm môi trường.

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống giám sát an ninh tích hợp IoT

Võ Thị Phương Loan, Lê Thị Bảo Trâm, Nguyễn Đăng Khoa, Phan Bình Minh, Nguyễn Đình Tứ*
Tóm tắt | PDF
Một hệ thống an ninh thông minh, tập trung vào giải quyết các hạn chế của hệ thống truyền thống, tăng cường khả năng phát hiện và cảnh báo sớm các mối đe dọa được đề xuất trong nghiên cứu. Hệ thống đề xuất bao gồm các thành phần chính như: thiết bị sử dụng mô-đun cho Internet vạn vật (IoT – Internet of Things), camera, thuật toán để nhận dạng đối tượng, công nghệ RFID kiểm soát quyền truy cập vào các khu vực khác nhau và phần mềm quản lý tập trung để hỗ trợ hoạt động bảo mật, giám sát. Kết quả cho thấy hệ thống có khả năng cải thiện tính toàn diện cho quá trình bảo mật trong thời gian thực có độ chính xác trên 80%, với các tính năng như: cải thiện độ chính xác, tối ưu hóa tốc độ xử lý và cung cấp giải pháp quản lý tập trung qua phần mềm. Qua đó, khẳng định tiềm năng của ứng dụng công nghệ IoT và trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực an ninh, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các giải pháp bảo mật hiện đại hơn trong tương lai.

Thu hồi Al(III), Ni(II), và MG(II) từ dung dịch giả hòa tách hcl của xúc tác thải bằng phương pháp kết tủa chọn lọc

Nguyễn Việt Nhẩn Hòa*, Trần Thanh Tuấn, Lê Ngọc Thạch, Lê Ngọc Hân, Đoàn Văn Hồng Thiện, Hồ Quốc Phong, Nguyễn Thị Bích Thuyền, Lương Huỳnh Vủ Thanh
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, Al(III), Ni(II) và Mg(II) từ dung dịch giả hòa tách HCl của xúc tác thải steam reforming được thu hồi lần lượt bằng phương pháp kết tủa chọn lọc. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu suất thu hồi kim loại cũng được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy >99,0% Al(III) được thu hồi ở dạng γ-Al2O3 với độ tinh khiết 95,5% sau khi được kết tủa bởi Na2CO3, ở điều kiện pH 6,8, 80°C, 30 phút và nung ở 500oC trong 2 giờ. Tiếp theo, >99,9% Ni(II) từ dịch lọc chứa Mg(II) được kết tủa đến Ni(OH)2NiOOH bởi NaClO ở pH 8, tỷ lệ mol 1:2 của Ni(II):NaClO, 30 phút, 30oC  và độ tinh khiết của kết tủa là 98,5%. Trong khi đó, hiệu quả kết tủa NiS là thấp, chỉ đạt

Khảo sát thực nghiệm khuyết tật khi hàn ma sát khuấy của vật liệu đồng nhất và không đồng nhất

Nguyễn Minh Ky*, Hoàng Trọng Nghĩa, Hồ Xuân Thành, Nguyễn Phan Anh
Tóm tắt | PDF
Khảo sát thực nghiệm quá trình hình thành và xuất hiện khuyết tật hàn ma sát khuấy được thực hiện trên máy phay đứng của hãng MANFORD. Tốc độ của dụng cụ khuấy được quay với 1.875 vòng/phút và vận tốc chạy dọc theo đường hàn là 20 mm/phút là hai thông số quan trọng đối với thiết bị được để khảo sát. Vật liệu để khảo sát khuyết tật trong hàn ma sát là nhôm và đồng đỏ. Trong nghiên cứu khảo sát này, cái nhìn toàn diện về các yếu tố chính liên quan đến quá trình xuất hiện sự hình thành khuyết tật trong các phương pháp hàn khuấy thường được sử dụng với hợp kim nhôm và đồng bằng phương pháp thực nghiệm được làm rõ. Tốc độ quay của dụng cụ, độ sâu vật hàn, vận tốc di chuyển của dụng cụ, chi phối nhiệt độ cao được tạo ra trong quá trình hàn ma sát khuấy và thời gian cần thiết để hàn vật liệu là rất quan trọng. Mô hình nghiên cứu này đã dự đoán và phân tích thêm các khuyết tật của đường hàn trên bề mặt, đường hàn dưới bề mặt, sự hình thành không khuyếch tán khuấy và lỗ thoát của chốt. Và đồng thời so sánh độ bền của mối hàn ma sát bị khuyết tật vượt trội hơn so với mối hàn Laser. Các giá trị này được kiểm tra bởi độ bền kéo tối đa lần lượt là 21.5 MPa và 15.8 MPa tại vùng hàn của FSW và Laser.

Nghiên cứu khả năng xử lý malachite green trong nước của vật liệu lưỡng kim CuZn-ZIFs

Nguyễn Ngọc Yến, Huỳnh Ngọc Như, Ngô Ngọc Nhật Vương, Hồ Ngọc Tri Tân, Đặng Huỳnh Giao*
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, vật liệu lưỡng kim CuZn-ZIFs đã được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt dung môi và được đánh giá khả năng xử lý thuốc nhuộm malachite green trong nước. Các đặc tính cấu trúc, hình thái và tính chất hóa lý của CuZn-ZIFs được xác định thông qua các phương pháp như PXRD, FT-IR, SEM, TGA, BET và EDX. CuZn-ZIFs thể hiện hình thái đa diện đặc trưng, độ bền nhiệt cao lên đến khoảng 350°C và diện tích bề mặt riêng đạt 1286 m2/g. Hiệu suất xử lý malachite green đạt 98,7% khi có sự hiện diện của 0,3 g/L CuZn-ZIFs và 0,1 g/L potassium peroxydisulfate trong 20 phút ở nhiệt độ phòng. Sau bốn chu kỳ tái sử dụng, vật liệu vẫn duy trì hiệu suất loại bỏ trên 85%, cho thấy khả năng thu hồi và tái sử dụng hiệu quả.

Nghiên cứu dự đoán độ nhám bề mặt nhôm 6061 khi đánh bóng bằng laser xung với mô hình Multilayer Perceptron (MLP)

Nguyễn Hoài Tân, Nguyễn Văn Cương, Huỳnh Tuấn Cường Em, Nguyễn Thanh Thảo, Trần Văn Trường Hải, Nguyễn Nhựt Băng, Nguyễn Văn Tài*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này tập trung phân tích ảnh hưởng của các thông số quá trình bao gồm công suất laser (P), tốc độ quét (v) và tần số xung (f) đến độ nhám bề mặt hợp kim nhôm 6061 trong quy trình đánh bóng bằng laser Nd:YAG xung. Thí nghiệm được thiết lập đầy đủ với 27 tổ hợp và đánh giá độ nhám theo hai phương (Rax và Ray). Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy Rax chịu ảnh hưởng chi phối của tốc độ quét, trong khi Ray phụ thuộc chủ yếu vào công suất laser. Đặc biệt, hiệu ứng tương tác P–v cũng cho thấy ý nghĩa thống kê đáng kể đối với độ nhám bề mặt. Hai mô hình Multilayer Perceptron (MLP) riêng biệt đã được xây dựng để dự đoán hai thông số độ nhám bề mặt Rax và Ray. Kết quả huấn luyện cho cả hai mô hình đều đạt độ chính xác cao trên tập kiểm tra với R² lần lượt là 0,964 cho Rax và 0,961 cho Ray. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa thông số đánh bóng bằng laser trên hợp kim nhôm 6061.

Nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số khoan laser đến đường kính và độ côn trên thép không gỉ AISI 304 dày 0,1 mm

Nguyễn Hoài Tân*, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Tuấn Vũ, Tô Lê Hoàng Phúc, Trần Quách Anh Thủ, Đỗ Hữu Trí, Nguyễn Văn Tài
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát tác động của công suất laser (P), tần số xung (f) và vận tốc quét (v) đến chất lượng lỗ khoan 400 μm trên vật liệu thép không gỉ AISI 304 có độ dày 0,1 mm. Dựa trên 27 tổ hợp thực nghiệm, kết quả cho thấy độ côn dao động trong khoảng 5,2o – 13,7o. Sai lệch đường kính so với kích thước thiết kế được ghi nhận ở mức 1 – 15 μm. Phân tích ANOVA xác định mối quan hệ giữa các thông số khoan (công suất, tần số, vận tốc) và các chỉ tiêu chất lượng (sai lệch đường kính, độ côn) mang tính chất phi tuyến rõ rệt. Mỗi thông số có mức độ đóng góp và cơ chế tác động riêng biệt lên từng đặc tính hình học của lỗ khoan laser. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy trình gia công mà còn mở ra tiềm năng thay thế các phương pháp đặc biệt có chi phí cao trong sản xuất vi linh kiện thuộc lĩnh vực điện tử và y sinh.

Thiết kế điều khiển cầu trục 3D có xét đến ma sát

Phan Trọng Nghĩa*, Sơn Trường Nhân, Lê Văn Lẻ, Ngô Quang Hiếu
Tóm tắt | PDF
Bài báo trình bày thiết kế bộ điều khiển chế độ trượt cho hệ cầu trục container ba chiều có xét đến ảnh hưởng của lực ma sát giữa bánh xe và ray chuyển động. Lực ma sát được mô hình hóa theo mô hình Coulomb–nhớt có hiệu chỉnh nhằm mô tả liên tục đặc tính ma sát trong vùng vận tốc thấp và phản ánh bất định tham số trong phạm vi ±10%. Trên cơ sở mô hình động lực học phi tuyến xây dựng bằng phương pháp Lagrange, một luật điều khiển chế độ trượt được đề xuất để bù trực tiếp bất định ma sát và nhiễu tương đương, đồng thời sử dụng hàm hyperbolic tangent để giảm hiện tượng rung giật của tín hiệu điều khiển trong triển khai thực tế. Phân tích theo Lyapunov cho thấy hệ vòng kín đảm bảo ổn định; với hàm tanh(·), hệ đạt ổn định thực dụng quanh mặt trượt. Kết quả mô phỏng MATLAB/Simulink cho thấy hệ đạt thời gian hội tụ khoảng 10–13 s, góc dao động tải nhỏ hơn 3° và duy trì độ bền vững dưới nhiễu tham số ±5%. Các kết quả thu được cho thấy phương pháp được đề xuất có tiềm năng ứng dụng cho các hệ cầu trục ba chiều trong điều kiện có ma sát và bất định mô hình.

Thiết kế và đánh giá tính khả thi của mô đun thu phổ tương tác tự động cho đánh giá nhanh độ ngọt của quả quýt

Lâm Văn Linh, Nguyễn Định Trí, Lê Thành Trung, Nguyễn Hoàng Tiến, Phan Thanh Lương, Trần Nhựt Thanh, Nguyễn Chánh Nghiệm*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu trình bày thiết kế và đánh giá tính khả thi của mô đun thu phổ tương tác tự động dùng quang phổ cận hồng ngoại (NIR) để đánh giá độ ngọt quả quýt. Hệ thống tích hợp cơ cấu kẹp–xoay mẫu, đầu thu tịnh tiến với nguồn sáng vòng và buồng tối, cho phép thu phổ tự động tại nhiều vùng đo. So với thu phổ thủ công, thời gian đo giảm từ ~40 s xuống 17,7 s mỗi quả, tương ứng giảm 55,75%, đồng thời cải thiện độ ổn định phổ. Mô hình dự đoán độ ngọt (°Brix) từ 300 phổ trung bình của 75 quả quýt đạt RPD cao nhất 1,65, cho thấy tiềm năng ứng dụng của hệ thống trong đánh giá nhanh, không phá hủy chất lượng trái cây.

Dự đoán độ ngọt dưa lưới sử dụng phổ kế mini C11708MA

Phan Thị Hồng Châu, Võ Thị Tú Trinh, Lê Minh Hoàng, Lương Vinh Quốc Danh, Nguyễn Chánh Nghiệm*
Tóm tắt | PDF
Khả năng ứng dụng phổ kế mini C11708MA trong dự đoán không phá hủy độ ngọt (°Brix) của dưa lưới được đánh giá trong nghiên cứu. Phổ kế được tích hợp với vi điều khiển STM32 để thu nhận và truyền dữ liệu phổ về máy tính, nơi mô hình học máy được sử dụng để dự đoán °Brix. Phổ trong dải 640–1050 nm được thu thập từ 50 quả dưa lưới theo chiến lược lấy mẫu đa điểm. Các kỹ thuật tiền xử lý như lọc Savitzky–Golay, biến chuẩn hóa, hiệu chỉnh tán xạ nhân và các tổ hợp của chúng được áp dụng trước khi xây dựng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu từng phần (PLS) và vector hỗ trợ (SVR). Kết quả cho thấy SVR thường cho hiệu suất tốt hơn PLS, với RPD khoảng 1,7–1,8, cho thấy khả năng dự đoán chấp nhận được cho các ứng dụng sàng lọc nhanh. Kết quả này tương đương một số nghiên cứu trước đây sử dụng phổ kế mini, cho thấy tiềm năng phát triển thiết bị quang phổ cầm tay chi phí thấp cho đánh giá nhanh chất lượng nông sản.

Nhận dạng và định vị vị trí bất thường của mối hàn dựa trên mô hình FastFlow và Patchcore-Lite

Nguyễn Đức Tài, Lê Việt Phương, Tô Thanh Tuần, Nguyễn Hoàng Dũng*
Tóm tắt | PDF
Mối hàn là vị trí dễ phát sinh hư hỏng trong kết cấu cơ khí, đặc biệt khi bề mặt mối hàn tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Việc kiểm tra thủ công với số lượng lớn dễ dẫn đến sai sót. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp nhận dạng và định vị bất thường trên ảnh bề mặt mối hàn trong vùng quan tâm (ROI) dựa trên hai mô hình học sâu FastFlow và PatchCore-Lite. Bộ dữ liệu gồm 5.451 ảnh được chuẩn hóa về kích thước 512×512 pixels. Mỗi ảnh có mặt nạ mối hàn (weld mask), trong khi các ảnh bất thường có thêm mặt nạ lỗi (defect mask) làm dữ liệu chuẩn (ground truth). Kết quả thực nghiệm cho thấy PatchCore-Lite đạt hiệu quả tốt hơn ở mức nhận dạng bất thường với AUROC = 0,8978, trong khi FastFlow cho kết quả tốt hơn ở định vị trong ROI với FPR = 0,01875, Dice = 0,04175 và IoU = 0,02161. Nghiên cứu là cơ sở cho việc phát triển các phương pháp kiểm tra tự động lỗi bề mặt mối hàn trong điều kiện dữ liệu lỗi hạn chế.

So sánh thực nghiệm đặc tính khởi động và khả năng phát điện của các turbine gió trục đứng trong điều kiện gió thấp

Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Chánh Nghiệm, Quách Ngọc Thịnh, Trần Trung Tính*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh thực nghiệm đặc tính khởi động và khả năng phát điện của bốn dạng turbine gió trục đứng quy mô nhỏ gồm Aeroleaf cải tiến, Savonius xoắn, Darrieus và SH-200R trong điều kiện gió thấp. Các mô hình được thiết kế cùng diện tích quét (~0,305 m²) và sử dụng chung hệ thống máy phát để đảm bảo tính khách quan. Thí nghiệm được thực hiện ở ba cấp độ gió thấp; các chỉ tiêu gồm tốc độ gió khởi động, tốc độ quay và điện áp đầu ra được lấy trung bình từ bốn lần đo. Kết quả cho thấy Aeroleaf cải tiến có tốc độ gió khởi động trung bình thấp nhất (2,54 m/s) và đạt tốc độ quay (164,75 vòng/phút) và điện áp ra (16,1 V) cao nhất. Sự khác biệt được giải thích bởi đặc tính khí động lai giữa lực cản và lực nâng của cánh Aeroleaf cải tiến, giúp nâng cao khả năng tự khởi động và phát điện trong vùng gió thấp.

Hiệu quả xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm kết hợp hút chân không và gia tải trước: Nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp công nghệ cao Long Thành

Phạm Hữu Hà Giang*, Lê Ngọc Tân, Trần Đức Khanh, Bùi Quang Trung, Nguyễn Trung Nghĩa, Đào Xuân Bằng, Huỳnh Văn Hiệp
Tóm tắt | PDF
Bài báo trình bày nghiên cứu xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm (PVD) kết hợp hút chân không và gia tải trước tại khu công nghiệp Long Thành, Đồng Nai. Hiệu quả xử lý được đánh giá thông qua số liệu quan trắc hiện trường kết hợp phân tích giải tích và mô phỏng số. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu cơ lý của đất được cải thiện rõ rệt sau xử lý. Cụ thể, độ ẩm tự nhiên giảm 25,5% và hệ số rỗng giảm 29,2%, trong khi sức kháng cắt không thoát nước và áp lực tiền cố kết tăng lần lượt 20,1% và 26,0%, cho thấy nền đất trở nên chặt hơn và khả năng chịu tải được nâng cao. Số liệu quan trắc cho thấy nền đạt khoảng 90% độ cố kết sau khoảng 70 ngày khi áp dụng hệ số vượt tải thiết kế khoảng 1,2 lần tải khai thác. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi tăng hệ số vượt tải lên khoảng 1,4 lần, thời gian đạt độ cố kết mục tiêu có thể rút ngắn khoảng 15%, trong khi tổng độ lún thay đổi không đáng kể.

Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị phân cỡ hạt sen tươi nguyên vỏ xanh theo kích thước

Nguyễn Văn Tài, Mai Vĩnh Phúc, Phạm Quốc Liệt, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Hoài Tân*
Tóm tắt | PDF
Trong những năm gần đây, sản phẩm từ hạt sen mang lại hiệu quả kinh tế cao, thúc đẩy nông nghiệp bền vững và góp phần nâng cao đời sống cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các thiết bị, máy móc phục vụ cho các công đoạn sơ chế hạt sen tươi trở nên vô cùng cấp thiết nhằm nâng cao năng suất cho quá trình sơ chế. Việc phân loại hạt sen tươi là một trong những công đoạn trong quá trình sơ chế, giúp hạt sen tươi được phân loại thành những loại hạt có kích thước gần nhau. Nhờ đó, công đoạn cắt, tách vỏ xanh hạt sen được thực hiện tốt hơn, các cỡ hạt sen khác nhau sẽ được cắt với các chiều sâu cắt khác nhau, hạn chế đáng kể hạt sen bị thâm do cơm sen bị cắt quá sâu. Trong nghiên cứu này, thiết bị phân loại hạt sen tươi với năng suất 20 kg/hr được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công dựa theo nguyên lý sàng lồng quay dùng để phân loại các hạt sen tươi có kích thước khác nhau. Từ kết quả thực nghiệm thu được, hạt sen tươi sẽ được phân loại theo 4 loại cỡ hạt: hạt sen lép, hạt sen cỡ trung, hạt sen cỡ lớn và hạt sen quá cỡ dựa theo kích thước của hạt sen tươi với độ chính xác trên 95%.

Nghiên cứu mô phỏng hệ thống treo nhíp lá trên xe Toyota Land Cruiser HJ60LG-MZ

Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Hải Đăng, Đặng Quang Huy, Trần Văn Định, Nguyễn Hoài Tân*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá đồng thời độ bền cơ học và đặc tính động lực học của hệ thống treo nhíp lá trên xe Toyota Land Cruiser HJ60LG-MZ bằng cách kết hợp phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) và mô hình hóa một phần tư xe. Kết quả FEM cho thấy ứng suất Von-Mises cực đại đạt 437,3 MPa tại vùng mắt nhíp và chuyển vị lớn nhất là 4,39 mm tại tâm nhíp. Hệ số an toàn từ 2,7 đến 3,9 chỉ ra kết cấu vận hành ổn định trong miền biến dạng đàn hồi. Việc mô phỏng động lực học cho thấy chỉ số gia tốc hiệu dụng (aRMS) đạt từ 0,73 đến 0,96 m/s², tương ứng mức độ từ “khá khó chịu” đến “khó chịu” theo tiêu chuẩn ISO 2631-1:1997. Bên cạnh đó, một phương pháp tiếp cận tích hợp mới đã được đề xuất, cho phép đánh giá toàn diện hệ thống từ độ bền kết cấu đến hiệu suất vận hành. Đây là cơ sở khoa học quan trọng trong việc định lượng đặc tính động học và tối ưu hóa thiết kế hệ thống treo nhíp lá trên các dòng xe SUV và xe tải hạng nhẹ.

Ứng dụng kỹ thuật tương phản kênh điện tử (ECCI) nghiên cứu cơ chế lan truyền vết nứt gián đoạn trong hợp kim Fe–Si

Huỳnh Thanh Thưởng*, Bùi Văn Hữu, Nguyễn Công Khải, Cao Hoàng Tiến, Nguyễn Văn Cương
Tóm tắt | PDF
Kỹ thuật tương phản kênh điện tử (Electron Channeling Contrast Imaging – ECCI) được áp dụng nhằm làm sáng tỏ cơ chế lan truyền vết nứt gián đoạn trong hợp kim Fe–3 wt%Si đơn tinh thể chịu tải kéo trong môi trường không khí. Kết quả từ các quan sát dưới bề mặt cho thấy sự hoạt hóa đối xứng của các hệ trượt và sự hình thành các dải trượt có khoảng cách đều đặn phát ra từ đầu vết nứt. Các dải trượt giao cắt và cấu trúc lệch mạng được xác định phía trước đầu vết nứt, hình thành nên các cấu trúc lệch mạng có vai trò cản trở cục bộ sự tiến triển của vết nứt. Khoảng cách giữa các lệch mạng này trùng khớp với khoảng cách vân sọc quan sát trên bề mặt phá hủy, cho thấy bước phát triển của vết nứt được chi phối bởi sự sắp xếp nội tại của lệch mạng thay vì chiều dài vết nứt tổng thể. Một cơ chế chịu sự điều khiển của vi cấu trúc, bao gồm chu kỳ phát xạ lệch mạng, hóa bền biến dạng, tiến triển và dừng vết nứt, được đề xuất.

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ cắt đến độ nhám bề mặt khi phay mặt lõm khuôn trên thép SKD-11

Nguyễn Văn Cương*, Sơn Hoàng Dũng, Huỳnh Thanh Thưởng
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các thông số chế độ cắt, gồm vận tốc cắt (V), lượng chạy dao (S) và chiều sâu cắt (t) đến độ nhám bề mặt lõm của chi tiết, khi phay vật liệu thép SKD11, sử dụng dao phay ngón dạng cầu trên máy CNC 3 trục. Phương pháp quy hoạch thực nghiệm toàn phần được sử dụng kết hợp với phân tích hồi quy bằng Minitab, mô hình hồi quy thực nghiệm mô tả quan hệ giữa độ nhám bề mặt và các thông số cắt đã được xây dựng. Giá trị độ nhám bề mặt lõm được xác định từ 0,468 µm đến 3,054 µm, tương ứng với vận tốc cắt từ 75 ÷ 85 m/ph, lượng chạy dao 800 ÷ 1000 mm/ph, chiều sâu cắt 0,1 ÷ 0,3 mm. Mô hình toán học thu được cho thấy chiều sâu cắt và lượng chạy dao là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến độ nhám bề mặt. Mô hình có thể được dùng để dự đoán độ nhám bề mặt trong gia công, lựa chọn chế độ cắt hợp lý trong gia công bề mặt lõm trên thép SKD11.

Xây dựng mô hình động lực học và mô phỏng ô tô điện sử dụng hệ thống vi sai điện tử trên phần mềm MATLAB/Simulink

Nguyễn Thái Quang Huy*, Huỳnh Hữu Cường, Nguyễn Hữu Cường
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng mô hình và mô phỏng động lực học ô tô điện sử dụng hệ thống vi sai điện tử (EDS) điều khiển độc lập bằng hai động cơ điện một chiều tại cầu sau thay thế cho vi sai cơ khí truyền thống. Mô hình được thiết lập dựa trên hệ phương trình Newton-Euler, kết hợp với mô hình lốp phi tuyến Pacejka và mô hình động cơ điện. Bộ điều khiển PI được tích hợp trong cấu trúc vi sai điện tử nhằm tính toán và phân bổ lực kéo giữa các bánh xe chủ động. Kết quả mô phỏng trên phần mềm MATLAB/Simulink trong nhiều điều kiện vận hành khác nhau cho thấy vận tốc dọc bám sát giá trị tham chiếu, mô-men xoắn được phân phối hợp lý cho từng bánh xe khi chuyển hướng, đồng thời góc trượt thân xe và sai số bám quỹ đạo được duy trì ở mức thấp, nằm trong vùng ổn định. Kết quả nghiên cứu giúp chứng minh tính khả thi, hiệu quả của cấu trúc vi sai điện tử và là nền tảng cho việc phát triển các thuật toán điều khiển cấp cao hơn.

Ứng dụng sơ đồ chuỗi giá trị (VSM) trong cải tiến sản xuất: Trường hợp nghiên cứu tại một công ty sản xuất thân xe tải

Nguyễn Hồng Phúc*, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Mai Thảo, Nguyễn Thị Yến Nhi
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng trong ngành cơ khí - ô tô, việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm thiểu lãng phí là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích các loại lãng phí trong quá trình sản xuất và đề xuất giải pháp cải tiến thông qua sơ đồ chuỗi giá trị (Value Stream Mapping - VSM), một công cụ của sản xuất tinh gọn (Lean Manufacturing). Nghiên cứu được thực hiện tại một công ty sản xuất thân xe tải. Kết quả cho thấy quy trình sản xuất còn tồn tại một số lãng phí như thời gian chờ đợi, vận chuyển không cần thiết, tồn kho bán thành phẩm và sự mất cân bằng giữa các công đoạn. Sau khi các giải pháp cải tiến được áp dụng, lead time giảm từ 9.900 phút xuống còn 7.782 phút (giảm 21,4%), cycle time tối đa giảm từ 1.124 phút xuống còn 565 phút (giảm 49,7%), góp phần cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc áp dụng sản xuất tinh gọn trong các doanh nghiệp cơ khí tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đánh giá sức chịu tải cực hạn của cọc bê tông ly tâm dự ứng lực trong đất yếu phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10304:2025

Lâm Ngọc Quí*, Trương Công Danh
Tóm tắt | PDF
Trong điều kiện nền đất yếu ở khu vực tỉnh Vĩnh Long, móng cọc bê tông ly tâm dự ứng lực được sử dụng rộng rãi cho các công trình có tải trọng lớn. Tuy nhiên, sự khác biệt đáng kể giữa kết quả xác định sức chịu tải cọc theo phương pháp giải tích, thí nghiệm nén tĩnh hiện trường và các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành đã gây khó khăn trong việc lựa chọn giá trị sức chịu tải thiết kế hợp lý. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tập trung đánh giá sức chịu tải cực hạn của cọc bê tông ly tâm dự ứng lực đường kính 0,5 m, chiều dài 47 m trong điều kiện địa chất phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long. Các phương pháp được áp dụng bao gồm tính toán theo tiêu chuẩn TCVN 10304:2025, việc phân tích kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc hiện trường và mô phỏng số được tiến hành bằng phần mềm Plaxis 3D với quy trình thi công theo giai đoạn. Kết quả nghiên cứu cho phép so sánh, đánh giá mức độ phù hợp của từng phương pháp trong ước lượng chịu tải cực hạn của cọc. Từ đó, phương pháp xác định sức chịu tải phù hợp với điều kiện địa chất địa phương đã được đề xuất, góp phần nâng cao tính an toàn và hiệu quả kinh tế trong thiết kế móng cọc.

Xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở trên hệ thống sông, kênh chính xã Châu Thành, thành phố Cần Thơ

Lâm Tấn Phát*, Trần Văn Tỷ, Đinh Văn Duy
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, bản đồ nguy cơ sạt lở cho sông Mái Dầm và rạch Xẻo Chồi thuộc hệ thống sông, kênh chính tại xã Châu Thành, thành phố Cần Thơ đã được xây dựng nhằm góp phần hỗ trợ công tác quản lý và quy hoạch ven bờ. Dựa trên khảo sát thực địa và nghiên cứu trước, bốn yếu tố chính gồm địa chất, hình thái dòng chảy, vận tốc dòng chảy và tải trọng ven bờ được lựa chọn để xây dựng các bản đồ thành phần. Dữ liệu tại các mặt cắt được nội suy trong môi trường hệ thống thông tin địa lý, việc phân cấp theo thang 5 mức nguy cơ và tích hợp bằng mô hình chồng lớp có trọng số được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc. Kết quả cho thấy sông Mái Dầm có nguy cơ sạt lở cao với 41,3% chiều dài thuộc mức nguy cơ cao, rạch Xẻo Chồi có nguy cơ thấp hơn (17,6%). Bản đồ nguy cơ tổng hợp cho thấy điều kiện địa chất và tải trọng ven bờ là các yếu tố chi phối ổn định mái bờ. Phương pháp đề xuất có thể được áp dụng cho các hệ thống sông, kênh tương tự tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Tổng quan có hệ thống các phương pháp bảo dưỡng trụ thu phát sóng thông tin di động

Lư Tất Thắng, Nguyễn Hoàng Dũng, Trương Quốc Bảo*
Tóm tắt | PDF
Việc bảo dưỡng trụ thu phát sóng thông tin di động là yêu cầu thiết yếu để đảm bảo tính liên tục và chất lượng hạ tầng viễn thông. Trong bài báo này, một tổng quan có hệ thống các phương pháp bảo dưỡng trụ viễn thông đã được trình bày theo hướng dẫn PRISMA 2020. Tài liệu được thu thập từ IEEE Xplore, ScienceDirect, SpringerLink và Google Scholar giai đoạn 2015–2025. Sau sàng lọc, [N=42] tài liệu được chọn, phân loại thành bốn nhóm: kiểm tra thủ công, giám sát sức khỏe kết cấu, kiểm tra bằng thiết bị bay không người lái (UAV) và phát hiện hư hỏng dựa trên học sâu. Kết quả cho thấy các phương pháp truyền thống còn hạn chế về hiệu quả và mở rộng, trong khi tích hợp UAV với trí tuệ nhân tạo thể hiện tiềm năng rõ rệt trong phát hiện ăn mòn, bong tróc lớp phủ và biến dạng kết cấu. Bên cạnh đó, nghiên cứu xác định các khoảng trống về bộ dữ liệu chuyên biệt, khung pháp lý cho UAV tại Việt Nam và triển khai thực tế, định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Xây dựng mô hình tối ưu cho bài toán phân bổ đơn hàng để tận dụng xe tải chiều về trống

Nguyễn Hồng Phúc*, Trần Huỳnh Phương Thy, Nguyễn Văn Đạt, Dương Thị Ngọc Ngân
Tóm tắt | PDF
Trong vận tải hàng hóa bằng đường bộ, tình trạng xe tải chạy rỗng chiều về sau khi giao hàng là một vấn đề gây lãng phí lớn cho doanh nghiệp và làm tăng chi phí vận tải hàng hóa. Để khắc phục tình trạng này, mô hình tối ưu bằng phương pháp Quy hoạch tuyến tính nguyên hỗn hợp (Mixed-Integer Linear Programming - MILP) đã được đề xuất trong nghiên cứu nhằm tối ưu hóa việc phân bổ đơn hàng cho các xe tải chiều về trống. Mục tiêu được xác định trong nghiên cứu là vừa giảm chi phí vận hành, vừa tối đa hóa doanh thu từ các chuyến giao hàng, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vận tải. Kết quả thực nghiệm qua phân tích kịch bản, phân tích độ nhạy và phân tích phương sai cho thấy mô hình đề xuất giúp phân bổ hiệu quả toàn bộ đơn hàng, nâng cao hiệu suất sử dụng phương tiện và lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống tản nhiệt tối ưu cho khuôn ép phun kim loại

Cao Sang*, Võ Thị Phương Loan
Tóm tắt | PDF
Đúc phun kim loại (MIM) là sự kết hợp giữa đúc phun nhựa và luyện kim bột để sản xuất các linh kiện kim loại có cường độ cao và hình học phức tạp. Mặc dù việc thiết kế khuôn đóng vai trò then chốt đối với chất lượng sản xuất, nhưng các kênh làm mát 2D truyền thống thường gây ra tình trạng phân bổ nhiệt độ không đồng đều, dẫn đến hiện tượng quá nhiệt và các khuyết tật về cấu trúc sản phẩm. Trong nghiên cứu này, một phương pháp sản xuất tích hợp đã đề xuất bao gồm: phân tích dòng chảy trong khuôn, thiết kế kênh làm mát theo biên dạng 3D, thử nghiệm và đánh giá hiệu quả làm mát của thiết kế mới. Thông qua các thử nghiệm đúc phun thực tế, tính khả thi của công nghệ tích hợp này đã được xác thực. Kết quả cho thấy hệ thống làm mát 3D tối ưu giúp cải thiện đáng kể hiệu suất giải nhiệt và độ đồng đều của nhiệt độ khuôn. Do đó, phương pháp này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu khuyết tật mà còn rút ngắn chu kỳ đúc, giúp tăng đáng kể năng suất sản xuất tổng thể.