Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Thư ngỏ của Tổng biên tập

Chào mừng đến với Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ! Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, ISSN 1859-2333, e-ISSN 2815-5599, là tạp chí được phản biện kín hai chiều, xuất bản các bài nghiên cứu và bài tổng quan chất lượng thuộc nhiều lĩnh vực...

Phân tích xu hướng phát triển đô thị thành phố Cần Thơ giai đoạn 2004 - 2019

Nguyễn Thị Hồng Điệp*, Nguyễn Trọng Cần, Phan Kiều Diễm, Nguyễn Xuân Hoàng, Bùi Hoàng Phúc
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá xu hướng phát triển đô thị thành phố (TP.) Cần Thơ năm 2004 và 2019 từ đó hỗ trợ các địa phương định hướng phát triển vùng đô thị tại các quân/huyện TP. Cần Thơ. Ảnh Landsat được phân loại bằng thuật toán xác suất cực đại (Maximum Likelihood Classification-MCL) và phân tích điểm nóng (Hotspot) theo dõi xu hướng đô thị hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy đô thị tập trung chủ yếu tại 4 quận Cái Răng, Ninh Kiều, Bình Thủy và Thốt Nốt với tổng diện tích năm 2004 là 6.400,2 héc-ta (ha) và năm 2019 là 16.007,0 ha. Tỷ lệ đô thị của TP. Cần Thơ tăng từ 4,45% năm 2004 lên 11,12% năm 2019. Tốc độ đô thị hóa trung bình năm của toàn thành phố là 0,43%, cao nhất là quận Ninh Kiều với 1,52% và thấp nhất là 0,19% ở huyện Cờ Đỏ. Mật độ đô thị quận Ninh Kiều cao nhất toàn thành phố với 45,9% năm 2004 và 65,62% năm 2019. Đô thị hóa phát triển theo hướng (1) dọc theo sông Hậu hình thành một đô thị dạng chuỗi, (2) theo sông Cần Thơ về phía Tây Nam và (3) theo hướng các tuyến quốc lộ chính.

Giải pháp quy hoạch quản lý dữ liệu hỗ trợ nông nghiệp thông minh

Trương Xuân Việt*, Nguyễn Hoàng Việt, Lê Hoàng Thảo, Cù Vĩnh Lộc, Trần Hoàng Việt, Lê Thành Phiêu, Nguyễn Hiếu Trung
Tóm tắt | PDF
Năng lực ra quyết định chính xác và kịp thời trong nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thông minh của nền nông nghiệp. Đứng ở góc độ quản lý khoa học, có thể nhận thấy bài toán thu thập, quản lý, chia sẻ các nguồn dữ liệu cần thiết cho các nghiên cứu nông nghiệp đã trở nên bức thiết. Bài viết tập trung vào việc đánh giá các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc thiếu hụt nguồn dữ liệu nghiên cứu nông nghiệp ở Việt Nam, xét trên hai khía cạnh: (1) khả năng quản lý và chia sẻ các nguồn dữ liệu nghiên cứu, đặc biệt là dữ liệu công và (2) năng lực khai thác các nguồn dữ liệu mở của cộng đồng nghiên cứu. Dựa trên đó, bài viết đề xuất giải pháp tổng thể về quy hoạch dữ liệu dựa trên các nguyên lý FAIR (to be Findable, Accessible, Interoperable, Reusable).Cách thức tiếp cận là xây dựng một Quy hoạch Quản lý Dữ liệu (DMP – Data Management Plan) cho hai khối cơ quan chức năng: (1) Khối chính phủ (dịch vụ công) – là khối chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng nguồn dữ liệu mở; và (2) Khối nghiên cứu, học thuật (trung tâm nghiên cứu, viện, trường) – là khối mà cơ chế quản lý dữ liệu phần nhiều mang tính tự nguyện, nhưng lại rất năng động trong khả năng khai thác các nguồn dữ liệu mở và có năng lực cao vềphân tích dữ liệu.

Nghiên cứu thu hồi và đánh giá các tính chất của kết tủa struvite từ nước thải

Trần Đăng Khoa, Lê Như Hoàng Anh, Trần Trọng Trí, Nguyễn Thị Diễm Trinh, Huỳnh Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Hoàng Chiều, Nguyễn Trường Thi, Đỗ Thị Minh Hiếu, Nguyễn Quang Long , Lê Minh Viễn*
Tóm tắt | PDF
Việc loại bỏ N và P ở nồng độ cao ra khỏi nguồn nước thải là một vấn đề quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và cải thiện đáng kể chất lượng nguồn nước. Mục đích của nghiên cứu này là thu hồi N và P từ nước thải thực thông qua quá trình kết tinh ở các điều kiện công nghệ khác nhau. Struvite (Magie amoni photphat hydrat, MgNH4PO4.6H2O thu hồi từ nước thải thực có nồng độ N và P cao đã được nghiên cứu. Ảnh hưởng của pH, tỷ lệ mol Mg/P, nhiệt độ kết tủa và thời gian phản ứng đến hiệu suất thu hồi struvite đã được thảo luận. Kết quả cho thấy pH và tỷ lệ mol Mg/P là các thông số quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất thu hồi P thông qua struvite. Hiệu suất thu hồi struvite đạt 95,2±3,1 % ở pH 8,3, tỷ lệ mol Mg/P là 1:1, ở 30°C và thời gian phản ứng là 90 phút và thời gian làm già là 60 phút. Hơn nữa, nhiệt độ kết tinh trong khoảng 20-40°C ảnh hưởng không đáng kể đến hiệu suất kết tinh struvite. Nhiễu xạ tia X (XRD) xác nhận sự hình thành cấu trúc struvite được thu hồi từ nguồn nước thải thực. Struvite thu được từ nước thải có chứa hàm lượng dinh dưỡng (Mg, N và P) cao được đề xuất làm phân bón tan chậm cho các ứng dụng nông nghiệp.

Ảnh hưởng của lá mít và trái mít non phụ phẩm đến các thông số lên men dạ cỏ và sinh khí methane in vitro

Lâm Phước Thành*, Nguyễn Thị Thu Hà, Dương Trần Tuyết Mai, Võ Thị Phượng Tiên, Nguyễn Châu Khánh Vân, Trần Thị Thuý Hằng
Tóm tắt | PDF
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng lá mít (LM) và trái mít non phụ phẩm (TM) thay thế cho cỏ voi (CV) đến tỷ lệ tiêu hoá, lên men dạ cỏ và sinh khí methane (CH4) in vitro sử dụng dịch dạ cỏ từ 4 con dê đực lai Saanen F2 (♂ Saanen × ♀ Bách Thảo). Thí nghiệm được thiết kế theo mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (NT) và 4 lần lặp lại. Ở tất cả các NT, thức ăn hỗn hợp được cố định ở mức 40% DM. Năm NT thí nghiệm được xây dựng từ sự thay thế LM và/hoặc TM cho CV trong khẩu phần, cụ thể như sau: 60% CV (NT1), 30% CV + 30% TM (NT2), 30% CV + 30% LM (NT3), 30% CV + 15% TM + 15% LM (NT4), và 30% TM + 30% LM (NT5). Kết quả cho thấy acid béo bay hơi (VFA) tổng số thấp nhất ở NT1 (57,7%) và cao hơn ở NT3 (73,0%) và NT5 (74,8%) (P

Khảo sát điều kiện trích ly và tinh sạch lectin từ đậu ma (Pueraria phaseoloides) bằng sắc ký ái lực

Võ Văn Song Toàn*, Trần Khoa Nguyên, Kim Thị Thu Xương, Nguyễn Thị Bảo Trân, Nhan Hoàng Thịnh, Tào Việt Hà
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định điều kiện trích ly và tinh sạch lectin từ đậu ma Pueraria phaseoloides. Lectin đậu ma được trích ly cùng với dung dịch NaCl 0,9% ở các tỷ lệ (w/v), thời gian và nhiệt độ ủ khác nhau. Dịch chiết thô được tinh sạch bằng phương pháp tủa phân đoạn với muối ammonium sulfate, tiếp theo là sắc ký ái lực trên gel Sepharose D-galactose để cải thiện độ tinh sạch. Kết quả cho thấy lectin đậu ma đạt hiệu quả trích ly tối ưu với hoạt tính đặc hiệu đạt là 1.579 HAA (Hemagglutination assay)/mg ở tỉ lệ với dung môi trích ly là 1:4 (w/v), tại 50oC, trong 10 phút. Dịch trích lectin đậu ma sau khi tủa phân đoạn ở nồng độ muối 40% - 50% cho hiệu suất thu hồi 35,4% với độ tinh sạch tăng 6,38 lần so với dịch trích thô; trong khi phân đoạn F1 từ sắc ký ái lực cho hiệu suất thu hồi 9,85% với độ tinh sạch tăng 16,2 lần. Kết quả điện di SDS-PAGE xuất hiện hai băng protein có khối lượng phân tử 66,0 kDa và 56,0 kDa.

Xác định thành phần và tỷ lệ phối trộn trong sản xuất trà hòa tan catechin

Nguyễn Văn Toàn, Phạm Hải Sơn, Nguyễn Thị Liễu, Lê Thị Huyền, Võ Nguyễn Thanh Thảo, Nguyễn Xuân Hiếu, Nguyễn Thị Dung*
Tóm tắt | PDF
Catechin là một hợp chất quan trọng được chiết xuất từ lá trà xanh (Camellia sinensis), có khả năng phòng ngừa và điều trị một số bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh đường ruột, bệnh răng miệng và có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá và gia tăng tuổi thọ. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm khảo sát, đánh giá một số điều kiện phối trộn tạo sản phẩm trà hòa tan từ catechin. Kết quả tách chiết cao catechin và cỏ ngọt ở điều kiện gia nhiệt 80oC trong 1 giờ sử dụng dung môi là nước thu được hiệu suất lần lượt là 30,91% và 31,76%. Hàm lượng polyphenol tổng trong mẫu cao chiết catechin đạt 327,47 mg GAE/g cao chiết. Hàm lượng catechin tổng của mẫu cao chiết catechin là 537,65 mg/g GAE. Công thức phối trộn của sản phẩm trà hòa tan cho điểm đánh giá cảm quan cao nhất với tỷ lệ phối trộn giữa cao catechin: cao cỏ ngọt : maltodextrin là 2:1:27. Nồng độ chất khô sử dụng trong quá trình sấy phun cho hiệu suất thu hồi cao nhất (83,20%) và chất lượng sản phẩm không đổi là 15%. Sản phẩm trà hòa tan catechin đạt tiêu chuẩn chất lượng, các chỉ tiêu phân tích sản phẩm đều nằm trong khoảng giới hạn cho phép dựa trên các TCVN hiện hành.

Đa dạng thành phần loài cá ở vùng lõi Vườn Quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

Trương Thị Ngọc Thu, Nguyễn Trung Tín, Trần Văn Thắng, Trần Văn Việt*
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu về sự đa dạng thành phần loài cá ở vùng lõi Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang được thực hiện từ năm 2020 đến năm 2021 nhằm xác định (i) hiện trạng quản lý nước và nguồn lợi cá, (ii) thành phần loài cá, và (iii) chỉ số đa dạng sinh học. Trong đó, 15 điểm thu mẫu trong 4 sinh cảnh khác nhau ở vùng lõi và một vùng đệm được tiến hành với 4 đợt thu mẫu vào các tháng 5, tháng 7, tháng 10 năm 2020 và tháng 01 năm 2021. Nhiều loại ngư cụ cố định và di động được sử dụng để đảm bảo thu được nhiều loài cá. Các mẫu cá được định danh, cân (g/cá thể) và đo chiều dài (cm). Bên cạnh đó, các chỉ số phong phú loài Margalef (d), chỉ số đa dạng Simpson (1-D) và chỉ số đa dạng loài Shannon – Wiener (H’) được tính toán để đánh giá mức độ đa dạng sinh học. Kết quả cho thấy việc thiếu nước ngọt trong mùa khô là mối đe dọa cá ở vùng lõi. Tổng số 32 loài cá thuộc 6 bộ và 17 họ được xác định. Vùng lõi có tính đa dạng, ổn định hơn so với vùng đệm ở các sinh cảnh và thời gian khác nhau, nhưng có sự biến động theo mực nước.

Động lực cá nhân, ý định chia sẻ tri thức và phát triển sản phẩm mới trong ngành du lịch

Đoàn Bảo Sơn*
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa ý định chia sẻ tri thức (KSI) và phát triển sản phẩm mới (NPD) trong ngành du lịch với vai trò thúc đẩy của động lực cá nhân bao gồm niềm vui (ENJ), sự có đi có lại (REC) và phần thưởng (REW). Các giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) dựa vào dữ liệu thu thập từ 399 đáp viên là nhân viên của các công ty du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy ENJ, REC và REW đều có tác động tích cực đến KSI. Đồng thời, REW và KSI có vai trò thúc đẩy NPD trong ngành du lịch. Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị với các nhà quản lý trong ngành du lịch được đề xuất.