Ngày xuất bản: 29-10-2026

Thiết kế và xây dựng mô hình phân loại, sắp xếp sản phẩm theo màu sắc ứng dụng xử lý ảnh

Đỗ Nguyễn Huy, Nguyễn Anh Kiệt, Phạm Thế Thịnh, Nguyễn Như Tương An, Đỗ Vinh Quang
Tóm tắt | PDF
Việc xây dựng một hệ thống tự động phân loại và sắp xếp sản phẩm dựa trên màu sắc được trình bày chi tiết trong bài báo. Một mô hình học sâu (YOLOv8) được huấn luyện trên tập dữ liệu riêng cho phép nhận dạng và phân biệt sản phẩm trong phạm vi ứng dụng của nghiên cứu này. Ngoài ra, bộ điều khiển trung tâm PLC Siemens S7-1200 điều khiển module phân loại gồm cơ cấu robot hai trục và băng tải có khả năng phân loại phôi màu xanh và đỏ tương ứng vào các khay. Kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống hoạt động ổn định và hiệu quả với tỷ lệ phân loại thành công có thể đạt tới 100% với độ tin cậy nhận dạng là 90% cho phôi đỏ và 80% cho phôi xanh, do đó, góp phần củng cố độ tin cậy của công nghệ này đối với các ứng dụng sản xuất thông minh.

Đánh giá hiệu năng và tính bền vững của một số bộ điều khiển phi tuyến: Một nghiên cứu so sánh trên mô hình con lắc ngược

Vũ Xuân Huy
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu năng và tính bền vững của các bộ điều khiển phi tuyến Backstepping, điều khiển trượt (SMC) và RISE trên mô hình con lắc ngược. Đóng góp chính của kết quả nghiên cứu là giúp xây dựng khung đánh giá thống nhất, phân tích đồng thời độ chính xác bám, thời gian xác lập, sai số RMS và năng lượng điều khiển có xét đến giới hạn bão hòa của cơ cấu chấp hành. Các bộ điều khiển được kiểm chứng qua ba kịch bản: điều kiện danh định, nhiễu ngoại sinh và bất định tham số. Kết quả cho thấy Backstepping đạt hiệu quả năng lượng cao trong điều kiện danh định nhưng suy giảm tính bền vững khi xuất hiện nhiễu và sai lệch mô hình. SMC có khả năng kháng nhiễu nhanh song tiêu thụ năng lượng lớn hơn và nhạy cảm với nhiễu đo lường. RISE đạt được sự cân bằng tốt hơn giữa độ chính xác bám, khả năng chống nhiễu và mức độ dao động của tín hiệu điều khiển nhờ cơ chế tích phân sai số, mặc dù đòi hỏi năng lượng cao hơn ở pha quá độ và quá trình tinh chỉnh hệ số phức tạp.

Vấn đề tính khối lượng đào đất để tận dụng đắp lề đường khi xây dựng tuyến mới trên nền đất yếu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đỗ Hàn Phong, Mai Quốc Hưng, Võ Hà Quân Đạt
Tóm tắt | PDF PDF
Xây dựng đường mới trên nền đất yếu, ngoài bài toán ổn định và lún, việc cân đối khối lượng đất đào đắp rất quan trọng do điều kiện địa hình thấp, nguồn vật liệu khan hiếm. Đất yếu có độ rỗng lớn, hàm lượng nước cao, tính nén lún mạnh dẫn đến sự chênh lệch đáng kể giữa thể tích đất đào tự nhiên và thể tích đất đắp sau đầm nén. Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý thuyết xác định hệ số chuyển đổi từ đất đào sang đất đắp (kcđ), hệ số tận dụng đất đào (ktd), đồng thời phân tích ảnh hưởng của lún nền đất yếu đến khối lượng đắp. Bộ dữ liệu gồm 20 kết quả thu thập tại 8 tỉnh thành, khoan lấy 105 mẫu thí nghiệm tại 02 tuyến đường. Kết quả hồi quy cho thấy mối tương quan bậc hai giữa khối lượng thể tích khô tự nhiên (γk) và kcđ, ktd rất chặt chẽ với hệ số R² lần lượt là 0,9457 và 0,9572. Kết quả nghiên cứu đưa ra góc nhìn tổng quan về khối lượng đắp nền đường trên nền đất yếu.

Kiến trúc thích ứng tầng trệt mở: Giải pháp ứng phó sụt lún và ngập lụt tại thành phố Cần Thơ

Huỳnh Lê Hoàn Vũ, Trương Hoài Tây
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh sụt lún đất và nước biển dâng tại Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là thành phố Cần Thơ, nghiên cứu được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp "Kiến trúc thích ứng" thông qua mô hình nhà phố tầng trệt mở. Thay thế các biện pháp chống đỡ thụ động, nghiên cứu tập trung vào việc quy hoạch không gian linh hoạt và thiết kế cốt nền dự phòng. Việc phân tích định lượng về biến đổi cốt nền được tiến hành bằng phương pháp khảo sát thực địa kết hợp đo đạc bằng máy cân bằng laser và thước laser tại 15 công trình điển hình tại Cần Thơ; đồng thời, mô hình Đánh giá chi phí vòng đời (LCCA) được sử dụng để kiểm chứng hiệu quả kinh tế. Kết quả cho thấy chiến lược "chiều cao dự phòng" kết hợp với "kết nối động" giúp công trình tự điều chỉnh trước sự thay đổi cao độ hạ tầng mà không cần can thiệp vào kết cấu chính. Kết quả phân tích kinh tế vòng đời chứng minh rằng dù chi phí đầu tư ban đầu tăng từ 10 đến 15%, giải pháp này giúp triệt tiêu hoàn toàn chi phí cải tạo nâng nền định kỳ, đảm bảo tính bền vững cho sinh kế cư dân đô thị.

Suy luận trạng thái cảm xúc tiềm ẩn dựa trên biểu cảm khuôn mặt cầu thủ bằng mô hình chuỗi thời gian tích hợp chất lượng ảnh

Trần Hùng Cường, Nguyễn Quang Huy, Trần Hồng Sơn, Trần Thu Phương, Nguyễn Mạnh Quân, Phan Trường Giang
Tóm tắt | PDF
Việc phân tích trạng thái cảm xúc tiềm ẩn của cầu thủ trong môi trường thi đấu thực tế là một bài toán thách thức do chất lượng video không ổn định và hạn chế của các phương pháp hiện tại trong việc mô hình hóa động thái cảm xúc theo thời gian. Bài báo được thực hiện nhằm đề xuất một hệ thống tích hợp đánh giá chất lượng ảnh khuôn mặt (FIQA) như một tín hiệu độ tin cậy vào mô hình chuỗi thời gian, cho phép theo dõi liên tục biểu cảm khuôn mặt ngay cả trong các điều kiện hình ảnh bị rung, mờ hoặc che khuất một phần. Trên cơ sở không gian trạng thái tiềm ẩn thu được, ba chỉ số định lượng đã được đề xuất gồm Latent Stability Index (LSI), Temporal Drift Index (TDI) và Latent Variability Index (LVI) nhằm đặc trưng hóa mức độ ổn định và biến động cảm xúc theo thời gian. Kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống có khả năng phản ánh nhất quán diễn biến trạng thái cảm xúc trong các tình huống thi đấu thực tế. Nghiên cứu được định vị như một proof-of-concept, đặt nền tảng cho hướng phân tích trạng thái cảm xúc tiềm ẩn từ video thể thao và mở ra tiềm năng ứng dụng trong hỗ trợ phân tích hiệu suất và ra quyết định chiến thuật.

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp giảm thất thoát nước tại Công ty Cổ phần Cấp nước Trà Nóc - Ô Môn, thành phố Cần Thơ

Phan Nhứt Khang, Trịnh Công Đoàn, Đặng Như Ý, Võ Quốc Thành, Huỳnh Vương Thu Minh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp giảm thất thoát nước (NRW) tại Công ty Cổ phần Cấp nước Trà Nóc – Ô Môn. Dữ liệu trong giai đoạn 2018 – 2024 được phân tích bằng kiểm định Pettitt để nhận diện xu hướng và biến động NRW. Kết quả cho thấy tỷ lệ NRW giảm dần nhưng vẫn cao, đặc biệt tại Ô Môn với mức trung bình 13,86%. Đồng thời, phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process – AHP) được sử dụng nhằm xác định mức độ ưu tiên của các giải pháp giảm thất thoát. Kết quả AHP từ 15 chuyên gia cho thấy tiêu chí kỹ thuật có trọng số lớn nhất, và giải pháp kiểm soát rò rỉ chủ động được ưu tiên cao nhất (0,227). Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và quản lý là cần thiết để đưa tỷ lệ NRW xuống dưới 10% vào năm 2030. Kết quả đóng góp cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch đầu tư và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống cấp nước.

Ứng dụng ZnO tổng hợp xanh từ lá đu đủ và lá lô hội trong xử lý COD nước thải mía đường tổng hợp

Nguyễn Xuân Lộc, Dương Hiếu Kiệt, Nguyễn Phi Long, Phan Thị Thanh Tuyền, Đỗ Thị Mỹ Phượng
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, phương pháp quang xúc tác sử dụng vật liệu ZnO tổng hợp từ chiết xuất lá đu đủ (Papaya) (ZnO-ĐĐ) và lá lô hội (Aloe vera) (ZnO-LH) được áp dụng để xử lý COD trong nước thải nhà máy mía đường. Vật liệu được chế tạo theo phương pháp tổng hợp xanh (green synthesis) và được khảo sát trong các điều kiện khác nhau: pH, khối lượng vật liệu, thời gian phản ứng, công suất đèn UV và khả năng tái sử dụng của vật liệu. Kết quả cho thấy, ZnO-ĐĐ có hiệu suất xử lý COD cao hơn so với ZnO-LH trong tất cả các điều kiện nghiên cứu. Tại điều kiện thí nghiệm thích hợp (pH 8, 0,5 g vật liệu, thời gian phản ứng 60 phút, công suất đèn UV 20 W), hiệu suất xử lý COD đạt 62,22% đối với ZnO-ĐĐ và 53,33% đối với ZnO-LH. Vật liệu ZnO-ĐĐ cho thấy khả năng tái sử dụng vượt trội, khi hiệu suất xử lý COD sau ba chu kỳ vẫn đạt lần lượt 58,10%, 46,67% và 35,24%, cao hơn đáng kể so với vật liệu ZnO-LH. Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu ZnO sinh học, đặc biệt là ZnO-ĐĐ, có tiềm năng ứng dụng trong xử lý nước thải hữu cơ chứa các hợp chất khó phân hủy, góp phần định hướng phát triển các công nghệ xử lý nước thải thân thiện với môi trường và chi phí thấp.

Đánh giá tiến độ thực hiện quy hoạch sử dụng đất: Ứng dụng bộ chỉ tiêu định lượng tại xã Ngọc Tố, thành phố Cần Thơ

Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn Hữu Cường
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tiến độ thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong cùng kỳ quy hoạch tại xã Ngọc Tố, thành phố Cần Thơ, thông qua một bộ chỉ số định lượng đơn giản. Nghiên cứu sử dụng ba chỉ số: (i) chỉ số thay đổi trạng thái sử dụng đất Ki để lượng hóa cường độ biến động sử dụng đất theo thời gian, (ii) tỷ lệ thực hiện quy hoạch Ri để đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu sử dụng đất tại thời điểm giữa kỳ và (iii) hệ số tăng tốc thực hiện quy hoạch Pi để xác định mức độ cần tăng tốc triển khai các chỉ tiêu còn lại đến cuối kỳ quy hoạch. Kết quả cho thấy có 8 loại đất phát triển ngược với mục tiêu quy hoạch (Ri từ -596,05 đến -2,02) và nhóm có nhu cầu tăng tốc cao nhất (Pi ≥ 5) gồm 6 loại đất cần tăng tốc ít nhất 5 lần so với giai đoạn 2021 - 2025 để có khả năng đạt chỉ tiêu đến năm 2030. Kết quả cho thấy bộ chỉ số Ki - Ri - Pi giúp chính quyền địa phương nhận diện sớm những lệch lạc trong triển khai, ưu tiên nguồn lực cho các loại đất cần tập trung thực hiện,...

Xử lý Congo Red trong môi trường nước bằng vật liệu quang xúc tác TiO₂

Đỗ Thị Mỹ Phượng, Lê Trần Kim Ngọc, Nguyễn Xuân Lộc
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả quang xúc tác của vật liệu nano TiO2 tổng hợp bằng phương pháp sol–gel trong xử lý thuốc nhuộm Congo Red (CR) trong nước. Vật liệu được phân tích đặc trưng bề mặt bằng SEM, BET và pHpzc. Kết quả cho thấy TiO2 có dạng hạt gần hình cầu, kích thước 20 – 80 nm, diện tích bề mặt riêng 46,853 m2/g, thể tích lỗ rỗng 0,05 cm3/g và đường kính lỗ rỗng trung bình 2,34 nm và pHpzc khoảng 5,5. Hiệu quả xử lý CR được khảo sát theo các yếu tố pH, liều lượng TiO₂, thời gian phản ứng, nhiệt độ và cường độ chiếu sáng UV.  Kết quả cho thấy các giá trị tối ưu là: pH = 3, liều lượng TiO2 0,75 g/L, thời gian phản ứng 120 phút, nhiệt độ 30 °C và cường độ chiếu sáng 4 đèn UV, đạt hiệu suất phân hủy khoảng 98%. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng vật liệu nano TiO2 có khả năng quang xúc tác hiệu quả, mở ra tiềm năng ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm chứa các hợp chất azo khó phân hủy.

Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol từ cây rau răm (Persicaria odorata)

Trương Thị Phương Thảo, Huỳnh Vũ Luân, Triệu Thị Bích Vân, Đái Thị Xuân Trang, Lê Hoàng Nhựt Linh, Lê Hoàng Nguyệt Linh, Phan Thị Cẩm Tú
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol cây rau răm (Persicaria odorata). Hàm lượng các hợp chất polyphenol, flavonoid, saponin và polysaccharide được xác định bằng phương pháp quang phổ. Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết được đánh giá bằng phương pháp trung hòa gốc tự do DPPH (2, 2-Diphenyl-1-Picrylhydrazyl), ABTS (2,2-azino-bis(3-ethylbenzthiazoline-6-sulfonic acid)), phương pháp tiềm năng khử sắt FRAP (Ferric reducing antioxidant power), khả năng khử (RP) và kháng oxy hóa tổng (TAC). Kết quả cho thấy trong 1 g cao chiết của cây rau răm, có hàm lượng flavonoid (579,17±8,33 mg QE/g, polyphenol (94,35±4,49 mg GAE/g), saponin (9,44±2,66 mg ACE/g) và polysaccharide (49,58±2,78 mg GE/g). Cao chiết có hoạt tính kháng oxy hóa rõ rệt ở tất cả các phương pháp, mạnh nhất ở thử nghiệm ABTS (EC₅₀=129,89±0,73 µg/mL). Phân tích cho thấy hàm lượng polyphenol và flavonoid có mối tương quan chặt với hoạt tính kháng oxy hóa, khẳng định vai trò của hai nhóm hợp chất này. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để ứng dụng cây rau răm như một nguồn chất kháng oxy hóa tự nhiên.

Phân tích tính hợp lý trong sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Long Mỹ, Hậu Giang năm 2024

Cao Phước Thắng, Trương Huỳnh Kim Ngọc, Nguyễn Nhựt Khang, Quách Thị Hồng Dung, Nguyễn Thị Anh Thư
Tóm tắt | PDF
Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Trong đó, bệnh tăng huyết áp (THA) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh lý tim mạch. Bệnh THA nếu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến hậu quả là tổn thương cơ quan và cuối cùng dẫn đến tăng biến cố tim mạch và bệnh thận. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả tình hình sử dụng thuốc điều trị THA và đánh giá tính phù hợp trong chỉ định thuốc điều trị THA ở bệnh nhân ngoại trú kèm đái tháo đường hoặc bệnh tim mạch tại Trung tâm Y tế huyện Long Mỹ, Hậu Giang năm 2024. Việc thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 523 đơn thuốc ngoại trú có chỉ định thuốc THA trong thời gian từ 01/01/2024 đến hết ngày 31/03/2024. Theo chiến lược tối ưu, số đơn chỉ định không hợp lý chiếm tỷ lệ 58,13%. Mục tiêu điều trị cá nhân hóa cần được thực hiện để nâng cao hiệu quả điều trị THA và giảm thiểu nguy cơ biến chứng.

Tổng hợp vật liệu perovskite MAPbI3 bằng phương pháp bốc bay và ứng dụng trong pin mặt trời

Hồ Hoàng Việt, Nguyễn Phương Duy
Tóm tắt | PDF
Perovskite CH₃NH₃PbI₃ (MAPbI₃) là vật liệu hấp thụ ánh sáng đầy triển vọng cho pin mặt trời. Để đạt hiệu suất cao, lớp màng perovskite cần có độ che phủ tốt, độ dày tối ưu và hàm lượng PbI₂ dư thấp. Trong nghiên cứu này, các thông số ảnh hưởng đến chất lượng màng MAPbI₃, gồm nồng độ PbI₂, tốc độ quay phủ và thời gian phản ứng giữa (methylammonium iodide) MAI và PbI₂ trong quá trình bốc hơi chân không, đã được khảo sát theo quy trình đơn giản, chi phí thấp và phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm trong nước. Các đặc trưng của màng mỏng được xác định bằng các phương pháp khác nhau. Cấu trúc tinh thể và pha vật liệu được xác định bằng phương pháp X-ray diffraction (XRD). Hình thái bề mặt và kích thước hạt của màng được khảo sát bằng Scanning Electron Microscopy (SEM). Độ dày của màng mỏng được đo bằng thiết bị biên dạng bề mặt (stylus profilometer). Ngoài ra, các tính chất quang học của màng được nghiên cứu thông qua phổ hấp thụ tử ngoại-khả kiến (UV-Vis spectroscopy). Kết quả cho thấy, với nồng độ PbI₂ 1,25 M, tốc độ quay 4000 rpm và thời gian phản ứng 50 phút  pin mặt trời perovskite đạt hiệu suất 9,04%.

Ứng dụng mô hình Markov ẩn và hồi quy xu thế để phân loại và dự báo chỉ số sáng trung bình hàng tháng

Trần Văn Lý, Trương Thành An
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm đề xuất ứng dụng mô hình Markov ẩn (Hidden Markov Model, HMM) và mô hình hồi quy xu thế với các biến giả mùa (Trend Regression Model with Seasonal Dummy Variables, TRM-SDVs) để khảo sát sự phân nhóm và dự báo cho dãy dữ liệu chỉ số sáng trung bình tháng. Phân bố dữ liệu ở các tháng trong năm được xếp theo các nhóm chuẩn nhận được từ quá trình thiết lập HMM. Kết quả phân nhóm này phù hợp với quan sát tách nhóm ở phương trình của TRM-SDVs. Đối với việc dự báo, do TRM-SDVs phù hợp với tính mùa vụ của dãy dữ liệu nên ứng dụng dự báo từ mô hình này có các đánh giá sai số tốt hơn so với các dự báo từ HMM. Các ứng dụng được tiếp cận với hai dạng mô hình hóa này giúp có những đối sánh kết quả tin cậy và có sự chọn lựa mô hình dự báo tối ưu. Các thực nghiệm được thực hiện trên bộ dữ liệu bức xạ mặt trời được ghi từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2025 tại trạm khí tượng đặt ở Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ (10.0851° B, 105.7120° Đ).

Ảnh hưởng của HEPES đến chất lượng tinh trùng heo pha loãng bằng dung dịch Beltsville Thawing Solution (BTS)

Hồ Thiệu Khôi, Võ Công Thi, Ngô Anh Thư, Nguyễn Thị Ánh Hậu, Hồ Quảng Đồ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả của hai môi trường bảo quản tinh trùng heo gồm BTS (Beltsville Thawing Solution) và BTS được thay thế hệ đệm bicarbonate bằng HEPES (BTSH) trong quá trình bảo quản ở 17°C trong 96 giờ. Các chỉ tiêu được đánh giá gồm pH, áp suất thẩm thấu, tỷ lệ sống, tính toàn vẹn màng (HOST) và các chỉ số vận động tinh trùng được phân tích bằng hệ thống CASA. Kết quả cho thấy môi trường BTSH duy trì pH và áp suất thẩm thấu ổn định hơn, đồng thời cải thiện rõ rệt hoạt lực và tỷ lệ sống của tinh trùng so với BTS (p < 0,05), qua đó giúp hạn chế các biến động bất lợi của môi trường pha loãng trong suốt quá trình bảo quản. Sau 96 giờ bảo quản, BTSH đạt tỷ lệ sống 73,67 ± 0,88% và hoạt lực 76,01 ± 1,79%, vượt trội hơn so với BTS. Việc tổng hợp kết quả cho thấy BTSH là môi trường phù hợp nhất cho bảo quản tinh trùng heo ở 17°C đến 96 giờ, giúp duy trì chất lượng tổng thể, khả năng vận động và tính ổn định của màng tinh trùng trong suốt quá trình bảo quản.

Khảo sát tình hình bệnh tim trên chó tại một số phòng khám thú y khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Đinh Nguyên Khánh, Nguyễn Anh Khoa, Phạm Thị Huê, Nguyễn Thị Chuyên, Võ Phong Vũ Anh Tuấn
Tóm tắt | PDF
Bệnh tim trên chó gồm bất thường về hình thái và chức năng của tim như thoái hoá van tim, bệnh cơ tim và bệnh tim bẩm sinh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tỉ lệ mắc bệnh và các yếu tố nguy cơ của bệnh tim trên chó được mang đến phòng khám thú y. Chó được mang đến 3 phòng khám với các biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh tim đã được kiểm tra X-quang, huyết thanh học cNT-proBNP và siêu âm tim. Trong 320 chó được khảo sát, tỉ lệ chó mắc bệnh tim ghi nhận là 9,38%. Nhóm giống chó là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Chó ngoại có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn chó nội 7,19% so với 2,19%. Yếu tố giới tính và tuổi không làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim trên chó. Các triệu chứng ghi nhận được trong nhóm chó mắc bệnh tim gồm ho (36,67%), niêm mạc tím tái (33,33%), thở khó (26,67%) và co giật (3,33%). Trong nhóm chó mắc bệnh tim, bệnh van tim là bệnh tim phổ biến nhất trên chó, chiếm 50% tổng số ca bệnh tim. Tỉ lệ chó mắc bệnh cơ tim và bệnh tim bẩm sinh chiếm lần lượt là 1,87% và 2,5% trong số trường hợp chó mắc bệnh tim. Kết quả nghiên cứu không ghi nhận chó mắc 2 loại bệnh tim cùng một thời điểm.

Đặc điểm thực vật học và mã vạch ADN của cây cẩm địa la (Kaempferia rotunda L. – Zingiberaceae)

Hoàng Đức Thuận, Nguyễn Thị Ái Thuận
Tóm tắt | PDF
Cây cẩm địa la (Kaempferia rotunda L.) được dùng trong y học cổ truyền để bổ huyết, điều kinh, cầm máu, giảm đau, giải độc và tiêu thũng. Tuy nhiên, tại Việt Nam thông tin về đặc điểm thực vật của loài này còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả đặc điểm thực vật của loài này thu tại Lâm Đồng. Kết quả xác định cẩm địa la có đặc điểm: thân rễ mang nhiều rễ, mỗi rễ có một rễ củ hình trứng; cụm hoa xuất hiện trước lá; đài hoa chẻ dọc, mang 3 răng nhỏ ở đỉnh; ống tràng dạng dải hẹp, màu trắng; cánh môi màu tím chia 2 thùy; đầu nhụy hình phễu, có lông; thân rễ có nhiều tế bào tiết màu vàng cam, mùi thơm đặc trưng; rễ củ chứa nhiều tinh bột. Việc so sánh đoạn gen của loài với dữ liệu trên ngân hàng gen cho thấy đoạn gen thu được tương đồng 96,03% với trình tự loài K. rotunda L. đã được công bố. Đây là nghiên cứu đầu tiên cung cấp chi tiết các đặc điểm thực vật và trình tự gen của K. rotunda L., là cơ sở quan trọng để xác định và phân loại loài tại Việt Nam.

Tối ưu hóa chiết xuất polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa và ức chế α-glucosidase từ lá ổi rừng (Psidium guajava L.) Bằng chiết xuất lỏng áp suất cao

Đặng Thị Ngọc Dung, Nguyễn Minh Trung, Nguyễn Quang Vinh
Tóm tắt | PDF
Lá ổi rừng (Psidium guajava L.) là nguồn nguyên liệu giàu polyphenol, thể hiện hoạt tính chống oxy hóa và khả năng ức chế α-glucosidase tiềm năng. Phương pháp chiết xuất lỏng áp suất cao (Pressurized Liquid Extraction, PLE) được áp dụng trong nghiên cứu nhằm tối ưu hóa hàm lượng polyphenol tổng (TPC) và đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết. Thiết kế tâm xoay thuộc phương pháp bề mặt đáp ứng (Response Surface Methodology, RSM) được sử dụng để khảo sát ảnh hưởng của nồng độ ethanol (34,75-65,25%), nhiệt độ (64,75-95,25°C) và thời gian chiết xuất (2,375-17,625 phút) đến TPC, hoạt tính DPPH và khả năng ức chế α-glucosidase (IC₅₀). Điều kiện chiết xuất tối ưu được xác định là nồng độ ethanol 49,03%, nhiệt độ 79,58 °C và thời gian 9,21 phút. Tại điều kiện này, giá trị TPC, hoạt tính DPPH và IC₅₀ α-glucosidase lần lượt đạt 240,113 ± 3,792 mg GAE/g, 408,831 ± 8,425 mg TE/g ck và 3,146 ± 0,387 µg/mL. Phân tích tương quan và phân tích thành phần chính (PCA) cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hàm lượng polyphenol và các hoạt tính sinh học. Nghiên cứu này cho thấy tiềm năng phát triển phương pháp chiết xuất lỏng áp suất cao trong thu nhận polyphenol có hoạt tính sinh học từ nguồn thực vật.

Ảnh hưởng của quá trình lên men bằng vi khuẩn lactic đến hàm lượng phenolic và hoạt tính chống oxy hóa của dịch vỏ cà phê

Huỳnh Nguyễn Phương Trang, Nguyễn Dương Hoàng Vinh, Hồ Hoàng Hải, Trịnh Thi Phi Ly
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình lên men bằng các chủng vi khuẩn lactic (LAB) đến hàm lượng các hợp chất phenolic và hoạt tính chống oxy hóa của dịch vỏ cà phê. Kết quả cho thấy Lacticaseibacillus  paracasei LC giúp tăng hàm lượng phenolic tổng số (TPC) từ 15,30 mg GAE/g lên mức tối đa 16,65 mg GAE/g sau 12 giờ. Đồng thời, L. paracasei LC duy trì hàm lượng axit chlorogenic (CGA) và  axit caffeic (CA) ổn định, giúp dịch lên men đạt hoạt tính chống oxy hóa ABTS cao, đạt mức 17,89 mg AAE/g tại thời điểm 36 giờ. Trong khi đó, Lactiplantibacillus plantarum LP sinh trưởng mạnh nhất và làm giảm 15,30% hàm lượng caffeine sau 48 giờ, nhưng cũng làm giảm hàm lượng phenolic và hoạt tính chống oxy hóa trong giai đoạn 24 - 48 giờ. Những kết quả này khẳng định hiệu quả lên men phụ thuộc vào đặc tính chủng và thời gian lên men. Trong đó, L. paracasei LC và Limosilactobacillus fermentum LF phù hợp để phát triển đồ uống chức năng giàu chất chống oxy hóa, còn L. plantarum LP lại cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sản xuất các sản phẩm lên men giảm caffeine từ vỏ cà phê.

Kiểm định sự phù hợp của kết quả thực nghiệm trên cơ sở mô hình động học trong quá trình sấy thịt vịt bằng không khí nóng

Nguyễn Hồng Xuân, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Trọng Ngữ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá sự phù hợp của các mô hình động học áp dụng đối với quá trình sấy nhiệt thịt vịt ở các mức nhiệt độ 70, 80, 90 và 100°C trong thời gian 1, 2, 3, 4 và giờ, mô hình Lewis, Page, Henderson - Pabis, và Logarit lần lượt được khảo sát trên dữ liệu thực nghiệm. Kết quả cho thấy tỷ lệ ẩm của thịt vịt giảm nhanh trong 1 giờ đầu, sau đó tiến dần đến trạng thái cân bằng sau 4 và 5 giờ sấy ở cả bốn mức nhiệt độ (oC). Mô hình Logarit thể hiện sự phù hợp cao nhất với dữ liệu thực nghiệm, với R² > 0,999 và RMSE thấp nhất (

Tối ưu hóa quá trình trích ly pectin từ vỏ quả quýt hồng (Citrus reticulata Blanco.) bằng phương pháp bề mặt đáp ứng kết hợp thiết kế CCD

Lê Như Bình, Trần Bạch Long
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu tối ưu hóa quá trình trích ly pectin từ vỏ quả quýt hồng (Citrus reticulata Blanco.). Phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) kết hợp thiết kế phức hợp trung tâm (CCD) đã được áp dụng để mô hình hóa và tối ưu hóa một số điều kiện trích ly (loại dung môi, nhiệt độ và thời gian trích ly, pH và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu). Kết quả khảo sát loại dung môi cho thấy acid citric là lựa chọn phù hợp, giúp cân bằng giữa hiệu suất thu hồi (5,720%), độ tinh khiết cao (82,250%) và tính an toàn khi ứng dụng trong thực phẩm. Thông qua mô hình tối ưu hóa bằng phương pháp RSM, điều kiện trích ly tối ưu được xác định ở nhiệt độ 90,11°C và thời gian 91,23 phút, mang lại giá trị hàm mong muốn đạt 0,9415. Kết quả khảo sát về pH và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu (v/w) chỉ ra rằng hiệu suất và độ tinh khiết đạt tối đa tại môi trường acid mạnh (pH 1 – 2) và tỷ lệ 15/1 đến 20/1. Cụ thể, hiệu suất thu hồi cao nhất đạt 16,60% tại pH 1, tỷ lệ 15/1, với độ tinh khiết dao động ở mức cao từ 78,90% đến 79,22%.

Nghiên cứu hồi cứu về ứng dụng mô hình học máy (machine learning) trong dự đoán bệnh giảm bạch cầu (Feline panleukopenia virus) ở mèo dựa trên dữ liệu sinh lý và sinh hóa máu

Đặng Hoàng Đạo, Trần Đình Chánh, Hoàng Nguyễn Minh Tâm, Trần Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá khả năng ứng dụng các mô hình học máy trong hỗ trợ chẩn đoán nhiễm Feline panleukopenia virus (FPV) ở mèo dựa trên dữ liệu huyết học và sinh hóa máu thường quy. Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 60 cá thể mèo, gồm 30 mèo khỏe mạnh và 30 mèo nhiễm FPV, được thu thập tại các phòng khám thú y ở Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được tiền xử lý, chuẩn hóa và phân tích bằng bảy thuật toán học máy, bao gồm Logistic Regression, K-Nearest Neighbors, Decision Tree, Random Forest, Gradient Boosting, Support Vector Machine và Naïve Bayes, kết hợp với phương pháp kiểm định chéo k-fold. Kết quả cho thấy Logistic Regression, Decision Tree, Random Forest, Gradient Boosting và SVM đạt độ chính xác 92%, trong đó Random Forest cho hiệu năng tối ưu (AUC = 1.00). Kết quả của phân tích tầm quan trọng của biến và PCA xác định bạch cầu đơn nhân (Mon#), bạch cầu tổng số (WB) và đường huyết (GLU) là các chỉ dấu dự báo chính, đồng thời chứng minh khả năng phân tách rõ ràng giữa mèo khỏe và mèo viêm ruột truyền nhiễm (FPV), khẳng định tiềm năng ứng dụng học máy trong thực hành lâm sàng thú y.

Đánh giá khả năng tuân thủ quy định về các sản phẩm không gây mất rừng của Liên minh châu Âu đối với nông hộ trồng cà phê tại Việt Nam

Trương Quang Hoàng, Nguyễn Thanh Hiền
Tóm tắt | PDF
Quy định của Liên minh châu Âu về các sản phẩm không gây mất rừng (EUDR) đặt ra các yêu cầu mới và nghiêm ngặt đối với chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu. Là một quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới, Việt Nam cần đáp ứng các yêu cầu tuân thủ của EUDR. Dựa trên dữ liệu khảo sát 1.724 hộ kết hợp với thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, cùng với việc áp dụng mô hình hồi quy cộng tính tổng quát (GAM), khả năng tuân thủ EUDR của hộ trồng cà phê được đánh giá qua ba khía cạnh chính, bao gồm: rủi ro mất rừng, tính pháp lý đất đai và một số thực hành sản xuất. Khả năng tuân thủ EUDR của các hộ trồng cà phê còn chưa đồng đều, thể hiện qua sự khác biệt về rủi ro mất rừng, mức độ hoàn thiện hồ sơ pháp lý đất đai, cấu trúc thửa đất và một số thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy mỗi vùng nghiên cứu đối mặt với những thách thức tuân thủ khác nhau. Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho việc xây dựng chính sách và các chương trình hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao khả năng tuân thủ EUDR tại Việt Nam.

Khảo sát sự hiện diện và đề kháng kháng sinh của E. coli spp., Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. ở chó nhiễm trùng đường tiết niệu tại phòng khám trên địa bàn thành phố Thủ Đức

Hoàng Nguyễn Minh Tâm, Trần Đình Chánh, Đặng Hoàng Đạo
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát sự hiện diện và đề kháng kháng sinh của Staphylococcus spp. trong nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) ở chó tại 5 phòng khám thành phố Thủ Đức (05/2024–09/2025). Trên 45 mẫu nước tiểu từ chó có triệu chứng UTI, 22 mẫu (48,89%) dương tính với Staphylococcus spp.; không phát hiện E. coli spp. và Streptococcus spp. Tỷ lệ dương tính cao hơn đáng kể ở chó đực (61,54%, p = 0,045), chó >5 tuổi (72,73%, p = 0,006) và chó nuôi thả hoàn toàn (77,78%, p = 0,033). Kết quả xét nghiệm nước tiểu cho thấy 100% có bạch cầu, 86,36% pH kiềm, 68,18% tăng tỷ trọng và có máu, 59,09% protein niệu. Việc kháng sinh đồ trên 22 chủng cho thấy đề kháng cao với Enrofloxacin (77,27%), Erythromycin (72,73%), Ampicillin (63,64%), Norfloxacin (59,09%); nhạy cảm cao (>80%) với Gentamicin, Amoxicillin/clavulanic acid và Nitrofurantoin. Kết quả nhấn mạnh tầm quan trọng của kháng sinh đồ trong quản lý UTI ở chó để hạn chế kháng thuốc.

So sánh sự sinh trưởng, năng suất và hiệu quả sử dụng nước của cà chua trên các hệ thống khí canh, thủy canh và tưới nhỏ giọt trong hai mùa vụ khác nhau

Trần Thị Thưa, Lê Hữu Đạt, Huỳnh Văn Hiền
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của bốn hệ thống trồng đến sinh trưởng, tỷ lệ đậu quả, năng suất và lượng dung dịch dinh dưỡng tiêu tốn của giống cà chua Jupiter 9.0 trong nhà lưới ở hai mùa vụ. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức: NT1 (tưới nhỏ giọt trên giá thể), NT2 (thủy canh hồi lưu), NT3 (khí canh áp cao trụ đứng) và NT4 (khí canh áp cao mặt ngang), mỗi nghiệm thức lặp lại bốn lần. Dung dịch Hoagland và Arnon (1950) được sử dụng với pH 6,0 và EC 0,5–

Đặc điểm thành phần loài, mật độ và phân bố nguồn giống cá ở vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Thanh Hóa

Từ Hoàng Nhân, Đào Thị Liên
Tóm tắt | PDF
Thành phần loài, mật độ và phân bố không gian của nguồn giống cá (trứng cá và cá con) tại vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Thanh Hóa được đánh giá trong nghiên cứu. Mẫu được thu tại 40 trạm trong các tháng 10/2024, 02/2025 và 04/2025 bằng lưới tầng mặt và lưới thẳng đứng. Kết quả ghi nhận 39 họ cá và 27 đơn vị phân loại (loài/nhóm loài), trong đó các đối tượng được xác định chủ yếu đến mức loài hoặc nhóm loài. Độ phong phú loài cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào tháng 2 (Kruskal - Wallis, p < 0,001). Cấu trúc nguồn giống bị chi phối chủ yếu bởi các họ cá nổi nhỏ Engraulidae và Clupeidae, với biến động rõ rệt theo mùa vụ. Mật độ trứng cá và cá con đạt cao nhất trong tháng 4 và thấp nhất trong tháng 2. Mật độ trứng cá luôn cao hơn cá con, phản ánh tỷ lệ suy giảm mạnh ở giai đoạn phát triển sớm. Nguồn giống tập trung chủ yếu tại vùng ven bờ và khu vực Hòn Mê. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc khoanh vùng bảo vệ bãi đẻ, bãi giống và đề xuất các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển Thanh Hóa.

Ảnh hưởng của nuôi cá bè trên sông lên quần xã cá tự nhiên ở cù lao Tân Lộc, Thành phồ Cần Thơ

Trần Văn Việt, Trương Tú Nguyên, Ngô Thị Thu Thảo
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định sự khác biệt về thành phần loài và số lượng cá tự nhiên ở khu vực nuôi cá bè trên sông để dự đoán tác động của bè đến cá tự nhiên.Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2024 tại cù lao Tân Lộc, thành phố Cần Thơ. Cá tự nhiên được thu gần bè là 3 m và xa bè là 35 m bằng lưới rê 3 màn. Mẫu được thu 12 tháng/năm, 2 lần/tháng vào các ngày 15 và 30 âm lịch. Việc thu mẫu được thực hiện 2 lần/ngày, lúc nước đứng buổi sáng và buổi chiều trước lúc cho ăn 60 phút. Mẫu cá thu được định danh, đếm, cân, đo từng cá thể. Nhiều phép thống kê khác nhau đã được sử dụng như: kiểm định t-test, tính chỉ số tương đồng, chỉ số đa dạng.Kiểm định PERMANOVA để xem sự khác biệt giữa cấu trúc quần xã, trực quan hóa dữ liệu. Thống kê iNEXT để dự đoán đa dạng giữa 2 vị trí.Kết quả thu được ở 2 khoảng 3 m và 35  lần lượt là 9 loài với 317 cá thể và 8 loài với 136 cá thể. Số loài không có sự khác biệt (p > 0,05),trong khi số cá thể có sự khác biệt ở 2 khoảng cách (p < 0,05), nuôi cá lồng bè thu hút quần xã cá tự nhiên đến sinh sống nhiều hơn.

Sự phát triển ống tiêu hóa cá sát sọc (Pangasius macronema)

Nguyễn Văn Triều, Bùi Minh Tâm, Phạm Thanh Liêm, Trần Đông Phương An, Trần Ngọc Hoài Nhân
Tóm tắt | PDF
Sự phát triển ống tiêu hóa cá sát sọc (Pangasius macronema) từ khi mới nở đến 30 ngày tuổi (DAH) được mô tả. Quy trình dinh dưỡng gồm: luân trùng (3–5 DAH), Moina sp. (4–21 DAH) và thức ăn chế biến (thay thế hoàn toàn sau 21 DAH). Kết quả phân tích hình thái và mô học cho thấy: Giai đoạn 1–3 DAH, ống tiêu hóa dạng thẳng, noãn hoàng tiêu biến hoàn toàn vào ngày 5 sau khi nở, cá bắt đầu dinh dưỡng ngoại sinh. Hệ tiêu hóa hoàn thiện chức năng vào ngày 9 với sự xuất hiện của tuyến dạ dày và nếp gấp ruột. Sau ngày 12, chiều dài ruột và số lượng nếp gấp tăng mạnh. Từ ngày 18, cấu trúc mô học ổn định, ruột cuộn khúc phức tạp tương tự cá trưởng thành. Sự hoàn thiện chức năng và tăng trưởng nhanh từ ngày 12 là cơ sở khoa học để xác định thời điểm thích hợp để chuyển đổi sang thức ăn chế biến.

Ảnh hưởng của tăng vụ trong canh tác lúa lên quần thể ốc bươu vàng Pomacea canaliculata (Lamarck, 1822) ở xã Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

Trần Văn Việt, Đinh Thị Thanh Trúc, Ngô Thị Thu Thảo
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của thâm canh tăng vụ lúa lên quần thể ốc bưu vàng (OBV), loài ốc ngoại lai gây lại lúa, để từ đó có giải pháp tốt hơn trong quản lý  sự xâm lấn loài ốc này bao gồm (i) xác định tỷ lệ OBV so với ốc bản địa, số lượng, kích cỡ ốc ở ruộng lúa canh tác 3 vụ và 2 vụ/năm; (ii) tình hình diệt ốc, khai thác, sử dụng OBV hiện nay. Nghiên cứu tại xã Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long từ tháng  9/2025 đến tháng 2/2026 từ đầu đến kết thúc vụ lúa. Thu mẫu ốc 3 tuần /lần. Kết quả thu được 2 loài là OBV chiếm 92% ở ruộng 2 vụ lúa và 99% ở ruộng 3 vụ lúa, còn lại là ốc lác (OL). Số lượng ốc giảm từ đầu vụ đến cuối vụ, mức nước trên ruộng dao động từ 0-0,35m, kích cỡ  OBV biến động rất lớn, phát triển ở ruộng 2 vụ nhiều hơn  ruộng 3 vụ. Chỉ có 12% có sử dụng OBV cho vịt ăn, 38% hộ trồng lúa đề xuất  diệt OBV tận gốc, không phổ biến OBV.

Đánh giá khả năng xử lý phần đọc hiểu tiếng nhật trình độ N3 của ChatGPT qua các tài liệu luyện thi JLPT

Nguyễn Thị Phi, Nguyễn Minh Thọ, Tô Lê Đức Anh, Bùi Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiênh nhằm tập trung đánh giá khả năng xử lý phần đọc hiểu tiếng Nhật N3 của ChatGPT thông qua 9 tài liệu luyện thi và được lặp lại ba lần. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính. Kết quả định lượng cho thấy ChatGPT đạt tỷ lệ trả lời đúng trung bình trên 60% ở cả 9 tài liệu, trong đó ba tài liệu trên 80% và cao nhất là 89,9%. Kiểm định thống kê cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa ba lần chạy, phản ánh tính ổn định và độ tin cậy của mô hình. Về mặt định tính, 71,8% lời giải được đánh giá là “đúng đầy đủ ý chính”, 27,3% “đúng một phần ý chính” và chỉ 0,9% “không đúng ý chính”. Các lỗi chủ yếu là hiểu sai ý hoặc bỏ sót thông tin, cho thấy hạn chế của ChatGPT trong việc xử lý văn bản dài và phức tạp. Kết quả nghiên cứu giúp khẳng định tiềm năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc học tiếng Nhật, đồng thời gợi ý cách sử dụng công cụ này một cách kiểm soát và hiệu quả.

Đổi mới phương pháp dạy học môn Triết học Mác - Lênin ở đại học Cần Thơ theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện của sinh viên

Nguyễn Thị Đan Thụy, Hồ Thị Hà
Tóm tắt | PDF
Đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học là một xu thế tất yếu ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học Triết học Mác - Lênin ở Đại học Cần Thơ theo hướng tiếp cận năng lực tư duy phản biện nhằm phát huy tính tích cực của người học là rất cần thiết. Với phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích thực trạng và giải pháp đổi mới phương pháp dạy học Triết học Mác - Lênin ở Đại học Cần Thơ theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện của sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

Quan niệm yêu nước của Nguyễn Sinh Sắc dưới góc nhìn lịch sử và văn hóa

Nguyễn Xuân Hoàng, Vũ Thu Hà, Nguyễn Hoàng Nhựt
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện với mục đích phân tích tư tưởng yêu nước của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc qua cuộc đời và sự nghiệp, làm rõ ảnh hưởng đối với phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong nghiên cứu này, phương pháp lịch sử và phân tích tư liệu đã được sử dụng để tái hiện bối cảnh. Tư tưởng yêu nước của ông thể hiện ở sự quan tâm đến tầng lớp nghèo khổ, vai trò người thầy truyền tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, cũng như giao lưu với sĩ phu để tiếp thu tư tưởng tiến bộ. Đặc biệt, thái độ phản kháng của ông với thực dân và phong kiến tạo nên phương pháp riêng, khác biệt với nhiều chí sĩ đương thời. Những trải nghiệm và hành động xã hội đã hình thành hệ tư tưởng yêu nước có sức lan tỏa, được hiện thực hóa qua người con Nguyễn Tất Thành. Kết quả nghiên cứu giúp khẳng định vai trò của Nguyễn Sinh Sắc trong dòng chảy tư tưởng yêu nước Việt Nam.

Diễn ngôn sự thật trong hồi ký Anh Thơ từ góc nhìn thể loại

Lê Thị Nhiên, Phạm Bé Diễu
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện đã tiếp cận hồi ký Anh Thơ từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn và thể loại phi hư cấu, nhằm làm rõ cách “sự thật” được kiến tạo thông qua ký ức và ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hồi ký của bà không phải là sự tái hiện nguyên vẹn quá khứ mà là một quá trình chọn lọc, tổ chức và tái cấu trúc bản sắc chủ thể. Diễn ngôn sự thật trong hồi ký Anh Thơ được hình thành trên ba phương diện chính: sự thiết lập “hợp đồng sự thật” giữa tác giả – người kể – nhân vật; sự phân mảnh của cái tôi giữa căn tính giới và căn tính nghệ sĩ, giữa đời tư và thời đại; cùng cấu trúc ký ức mang tính chiến lược, trong đó các khoảng lặng giữ vai trò kiến tạo nghĩa. Qua đó, hồi ký hiện lên như sự giao thoa giữa ký ức cá nhân và lịch sử tập thể, vừa mang giá trị văn học vừa là tư liệu văn hóa về hành trình tự ý thức của trí thức nữ Việt Nam thế kỷ XX.

Các yếu tố quyết định sự thay đổi trong quản lý tài nguyên nước nông nghiệp hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Ánh Minh, Nguyễn Hải Minh, Đặng Thị Quế Phương, Nguyễn Lê Mẫn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích sự thay đổi trong quản lý tài nguyên nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ở cấp hộ gia đình tại Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn gia tăng. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát 150 hộ nông nghiệp tại ba địa phương đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của khu vực. Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng đã được sử dụng. Trong đó, phương pháp định lượng được áp dụng để tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong quản lý tài nguyên nước. Kết quả cho thấy có bốn nhóm yếu tố tác động tích cực đến sự thay đổi: kinh tế – xã hội, biến đổi khí hậu, chính sách quản lý và ứng dụng công nghệ, trong đó yếu tố kinh tế – xã hội có mức độ tác động mạnh nhất. Trên cơ sở đó, các hàm ý chính sách đã được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Tiếp cận vấn đề cảnh quan trong Thương nhớ đồng quê: từ truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đến phim điện ảnh của Đặng Nhật Minh

Phạm Thuỷ Trúc, Trương Đặng Trọng Đính, Đặng Thị Thanh Thảo, Thiều Thúy Vy
Tóm tắt | PDF
Thông qua việc vận dụng lý thuyết cảnh quan của Raffaele Milani, trường hợp chuyển thể truyện ngắn Thương nhớ đồng quê thành bộ phim cùng tên đã được tiếp cận từ góc nhìn lý thuyết cảnh quan, nhằm làm nổi bật vai trò và ý nghĩa của cảnh quan trong quá trình kiến tạo nội dung và tư tưởng tác phẩm. Trên cơ sở xem cảnh quan không chỉ là không gian vật lý mà còn là một diễn ngôn phản ánh văn hóa truyền thống của cộng đồng, đồng thời biểu hiện thế giới nội tâm của nhân vật, cảnh quan trong tác phẩm đã được tập trung phân tích qua hai bình diện chính: cảnh quan văn hóa - xã hội và cảnh quan tâm thức. Bên cạnh đó, vai trò của người tiếp nhận trong quá trình đồng sáng tạo ý nghĩa tác phẩm cũng đã được đề cập, từ người đọc truyện ngắn đến đạo diễn và người xem phim, qua đó khẳng định tính mở và khả năng tái sinh không ngừng của tác phẩm trong lịch sử tiếp nhận.

Hành động đe dọa trong tiếng Việt dưới góc độ ngữ dụng học

Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thụy Thùy Dương
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát hành động đe dọa trong tiếng Việt dưới góc độ ngữ dụng học hiện đại, dựa trên lý thuyết hành động ngôn từ của Austin và Searle, đồng thời vận dụng quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân và Cao Xuân Hạo về lực ở lời và đặc điểm loại hình tiếng Việt. Trên cơ sở phân biệt hành động ở lời trực tiếp và gián tiếp, đe dọa là hành động ngôn từ có lực mạnh, thường tổ chức quanh quan hệ điều kiện - hậu quả nhằm gây áp lực điều chỉnh hành động người nghe. Kết quả cho thấy trong tiếng Việt, hành động đe dọa được biểu hiện qua hai nhóm phương tiện chính: (i) từ vựng và (ii) ngữ pháp. Do đặc trưng đơn lập và tính ngữ cảnh cao, việc nhận diện lực đe dọa không chỉ dựa vào hình thức cú pháp mà còn phụ thuộc vào quan hệ liên nhân và suy luận ngữ dụng. Kết quả của nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế hình thành và vận hành của lực đe dọa trong cấu trúc ngôn ngữ và tương tác giao tiếp tiếng Việt.

Dự báo kim ngạch xuất khẩu các ngành hàng chủ lực của Việt Nam và hàm ý cho thương mại điện tử xuyên biên giới

Mai Hoàng Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Ly Phương, Nguyễn Bích Ngọc
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, mô hình ARIMA đã được sử dụng nhằm dự báo kim ngạch xuất khẩu đến năm 2030 cho các ngành hàng chính của Việt Nam: Nông nghiệp – Thủy sản, Công nghiệp – Chế biến và Nhiên liệu – Khoáng sản. Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2005 – 2024. Kết quả dự báo cho thấy ngành Công nghiệp – Chế biến và Nông nghiệp – Thủy sản duy trì đà tăng trưởng mạnh lần lượt đạt khoảng 467,7 tỷ USD và 88,8 tỷ USD vào năm 2030. Ngược lại, ngành Nhiên liệu – Khoáng sản có xu hướng giảm nhẹ. Bên cạnh đó, hàm ý chiến lược tập trung phát triển hạ tầng logistics và xây dựng thương hiệu số cho hai ngành hàng tăng trưởng đã được đề xuất để tối ưu hóa thương mại điện tử xuyên biên giới.