Ngày xuất bản: 22-01-2026

Nghiên cứu phối chế kem hỗ trợ chống lão hóa chứa collagen trích ly từ da cá tra

Nguyễn Việt Bách, Nguyễn Thị Bích Thuyền
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, collagen được chiết tách từ da cá tra bằng acid ascorbic kết hợp enzyme pepsin. Mẫu collagen sau chiết tách được nghiên cứu phối chế kem dưỡng da bằng phương pháp nhũ hóa. Tiếp theo đó, kem được đánh giá các chỉ tiêu chất lượng theo quy định quản lý mỹ phẩm của Bộ Y tế và các đánh giá cảm quan. Kết quả đánh giá cho thấy, acid glycolic 1,0%, collagen 4,0%, cetyl alcohol 3,0% và isopropyl myristate 15,0% là các thông số thích hợp của công thức kem collagen. Mẫu kem sau khi được phối chế đạt các yêu cầu chất lượng theo quy định quản lý mỹ phẩm của Bộ Y tế và người tiêu dùng.

Cải tiến thuật toán đếm ruồi vàng vào bẫy điện tử dựa trên cơ sở phân tích hành vi

Nguyễn Văn Khanh, Trần Vỹ Khang, Nguyễn Chí Ngôn
Tóm tắt | PDF
Đếm tự động ruồi vàng hại trái là một trong những tác vụ quan trọng trong nông nghiệp. Trong đó, cơ chế đếm kép dựa vào hai cặp thu phát hồng ngoại đã được áp dụng và có hiệu quả tốt. Tuy nhiên, thuật toán đếm dựa trên cơ chế này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu, độ chính xác của cơ chế đếm kép dựa trên cơ sở các hành vi đi vào bẫy của ruồi được tập trung cải tiến. Một bẫy điện tử tích hợp cơ chế đếm kép được thiết kế và thu thập dữ liệu thực tế trong một tháng để phân tích hành vi vào bẫy của ruồi vàng. Các hành vi này được sử dụng phát triển thuật toán đếm lượng ruồi vào bẫy. Kết quả thử nghiệm thực tế cho thấy bẫy hoạt động ổn định, có thể phát hiện và đếm số lượng ruồi đi vào bẫy với độ chính xác đạt 95,05%. Kết quả đạt được của nghiên cứu có thể là cơ sở để phát triển một hệ thống tự động phát hiện, cảnh báo sớm và quản lý phân bố ruồi vàng trong tương lai.

Than sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp: Tính chất và tiềm năng ứng dụng trong xử lý kháng sinh

Lâm Phúc Thông, Nguyễn Minh Nhựt, Đặng Huỳnh Giao
Tóm tắt | PDF
Ô nhiễm kháng sinh trong môi trường nước đang trở nên ngày càng nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người cũng như động vật. Các phương pháp xử lý kháng sinh hiện nay đang là thách thức quan trọng và chưa thể hiện được hiệu quả cao. Hấp phụ cho thấy được tiềm năng trong việc xử lý hiệu quả kháng sinh, nhất là ở nồng độ thấp. Trong các loại vật liệu hấp phụ, than sinh học (TSH) từ phụ phẩm nông nghiệp ngày càng được quan tâm trong việc xử lý các ô nhiễm môi trường do có đặc tính tốt, chi phí sản xuất thấp và thân thiện với môi trường. TSH cho thấy được hiệu quả xử lý kháng sinh cao so với các loại vật liệu khác với dung lượng hấp phụ tối đa có thể đạt hơn 550 mg/g, trong khi chi phí sản xuất chỉ trong khoảng từ 0,35 đến 1,2 USD/kg, thấp hơn đáng kể so với các loại vật liệu khác. Kết quả cho thấy TSH đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng để giải quyết hiệu quả ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam.

Phân lập các flavonoid chính phục vụ công tác kiểm nghiệm dược liệu Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl., Lamiaceae)

Nguyễn Lê Yến Nhi, Nguyễn Thị Xuân Diệu
Tóm tắt | PDF
Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl.) thường được sử dụng để chữa cảm mạo, phong thấp, nôn ra máu, băng huyết, viêm dạ dày-ruột. Mặc dù Kinh giới đã được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, chuyên luận này hiện vẫn chưa có chất đối chiếu để phục vụ công tác kiểm nghiệm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập các flavonoid chủ yếu từ Kinh giới để đề xuất làm chất đối chiếu phục vụ nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng. Năm flavonoid chính gồm pedalin, luteolin-7-O-β-ᴅ-glucopyranosid, chrysoeriol-7-O-β-ᴅ-glucopyranosid, 7,3'-dimethoxyluteolin-6-O-β-ᴅ-glucopyranosid và 5,6,4'-trihydroxy-7,3'-dimethoxyflavon đã được phân lập bằng phương pháp sắc ký từ phân đoạn ethyl acetat của dược liệu. Các hợp chất được xác định cấu trúc và được đánh giá độ tinh khiết bằng HPLC, đều đạt trên 96%. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp nguồn chất đối chiếu tiềm năng, phục vụ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và đáp ứng yêu cầu cập nhật chuyên luận Dược điển trong thời gian tới.

Đánh giá khả năng phân hủy acid orange 7 của vật liệu FeCo-ZIFs với sự hiện diện của chất oxy hóa

Đặng Huỳnh Giao, Cao Đặng Hoàng Ân, Hồ Ngọc Tri Tân, Lương Huỳnh Vủ Thanh, Trần Hoàng Ái
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, vật liệu FeCo-ZIFs có cấu trúc tinh thể cao đã được tổng hợp thành công trong methanol bằng phương pháp nhiệt dung môi. Đặc điểm cấu trúc của FeCo-ZIFs được xác định bằng các phương pháp phân tích hiện đại như PXRD, FT-IR, EDX, SEM, TGA và khả năng hấp phụ khí nitơ. FeCo-ZIFs thể hiện khả năng xúc tác phân hủy acid orange 7 (AO7) tốt với sự hiện diện của chất oxy hóa potassium peroxydisulfate trong môi trường nước giả thải. Kết quả cho thấy FeCo-ZIFs có thể xử lý 99,2% AO7 nồng độ 30 mg/L trong vòng 20 phút ở nhiệt độ phòng, với nồng độ PDS và FeCo-ZIFs lần lượt là 0,1 g/L và 0,2 g/L. Điều này chứng tỏ FeCo-ZIFs là vật liệu tiềm năng để loại bỏ các hợp chất hữu cơ khó phân hủy trong môi trường nước, góp phần bảo vệ môi trường.

Hiệu quả xử lý màu và COD trong nước thải dệt nhuộm bằng tổ hợp keo tụ và AOPs/UV

Đỗ Thị Mỹ Phượng, Đặng Quốc Gia Bảo, Phan Hoàng Duy Tân, Phan Thị Thanh Tuyền, Nguyễn Xuân Lộc
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả xử lý độ màu và nhu cầu oxy hóa học (COD) trong nước thải dệt nhuộm bằng quy trình kết hợp keo tụ và oxy hóa nâng cao sử dụng tia UV và ozone (AOPs/UV-O₃). Quy trình thực nghiệm gồm ba bước: chế tạo mô hình xử lý, xác định điều kiện tối ưu cho quá trình keo tụ, và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất AOPs/UV-O₃. Kết quả cho thấy, quá trình keo tụ đạt hiệu quả tối ưu tại pH = 6,5 với liều lượng PAC 600 mg/L và Polymer Anion 4 mg/L, đạt hiệu suất loại bỏ 71,4% độ màu và 55% COD. Giai đoạn AOPs/UV-O₃ thực hiện với thời gian phản ứng 40 phút và chiếu UV liên tục giúp nâng cao hiệu quả xử lý, đạt tổng hiệu suất loại bỏ 81,4% đối với độ màu và 87% đối với COD. Kết quả cung cấp các thông số vận hành hiệu quả, có thể được áp dụng để cải thiện hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm, điều này góp phần định hướng phát triển công nghệ xử lý hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Công nghệ tách ion điện dung (CDI) trong xử lý nước thải: Cơ chế, ứng dụng và triển vọng phát triển

Thái Phương Vũ
Tóm tắt | PDF
Nước là tài nguyên thiết yếu đối với sự sống và sự phát triển bền vững của con người. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước và khan hiếm nước ngọt ngày càng trở thành những thách thức nghiêm trọng trên toàn cầu. Trong bối cảnh đó, công nghệ tách ion điện dung (CDI) đã và đang thu hút sự quan tâm nhờ các ưu điểm nổi bật như tiêu thụ năng lượng thấp, hiệu quả xử lý cao, chi phí hợp lý, thân thiện với môi trường và khả năng tái sử dụng của vật liệu điện cực. Bài báo này được thực hiện nhằm trình bày tổng quan có hệ thống về nguyên lý hoạt động, cấu hình, vật liệu điện cực, và các ứng dụng nổi bật của công nghệ CDI, không chỉ trong khử muối mà còn trong loại bỏ kim loại nặng, hợp chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật. Trong nghiên cứu,  việc phân tích cơ hội và thách thức đã được tiến hành, đồng thời các định hướng nghiên cứu tiếp theo cũng đã được đề xuất nhằm mở rộng ứng dụng công nghệ CDI trong xử lý nước tại Việt Nam.

Điều chế than hoạt tính từ vỏ củ ấu: Ứng dụng hấp phụ thuốc nhuộm và làm điện cực siêu tụ điện

Trần Thị Hồng Ngân, Trần Trung Dũng, Huỳnh Nguyễn Như Ngọc, Trần Văn Mẫn
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, kết quả tổng hợp và khảo sát ứng dụng của vật liệu than hoạt tính (AC) từ phế phẩm vỏ củ ấu cho hai mục tiêu: xử lý nước thải và lưu trữ năng lượng được trình bày. Vật liệu được điều chế thành công bằng phương pháp nung pha rắn và hoạt hóa hóa học bằng potassium hydroxide (KOH). Phân tích XRD xác nhận cấu trúc carbon vô định hình đặc trưng, với đỉnh nhiễu xạ rộng tại 2θ ≈ 23–30° và 45°. Vật liệu có bề mặt xốp và diện tích bề mặt riêng đạt 774 m²/g. Trong ứng dụng xử lý môi trường, vật liệu đã được thử nghiệm trên mẫu nước thải thực tế từ làng nghề dệt chiếu Định Yên (Đồng Tháp), cho hiệu suất khử màu 99,89% và giảm trên 70% chỉ số BOD₅ và COD. Ngoài ra, khi ứng dụng làm điện cực siêu tụ điện trong dung dịch điện giải 1,0 M Na₂SO₄, vật liệu ghi nhận điện dung riêng cực đại là 32 F/g tại mật độ dòng 0,5 A/g, điện thế 1V và duy trì 86,5% điện dung sau 2000 chu kỳ.

Đa dạng loài và tỷ lệ sản lượng của các nhóm hải sản ở vùng biển ven bờ, vùng lộng tỉnh Nghệ An dựa trên kết quả điều tra bằng lưới kéo đáy

Tạ Phương Đông, Nguyễn Văn Giang, Vũ Việt Hà
Tóm tắt | PDF
Nghệ An là một tỉnh trọng điểm về phát triển nghề cá biển ở nước ta, nhưng trong những năm gần đây nguồn lợi hải sản đang đứng trước nhiều thách thức do hoạt động khai thác quá mức. Để có cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, hai chuyến điều tra theo mùa gió Đông Bắc và Tây Nam năm 2022, kết hợp với các trạm điều tra lịch sử được thực hiện, từ đó cung cấp thông tin về sự đa dạng cũng như cấu trúc nguồn lợi tại vùng biển này. Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng biển Nghệ An có thành phần loài đa dạng với 483 loài/nhóm loài hải sản đã được ghi nhận, trong đó có 346 loài cá, 93 loài giáp xác, 32 loài chân đầu, 9 loài chân bụng, 3 loài hai mảnh vỏ. Riêng các chuyến điều tra năm 2022 chỉ ghi nhận được 224 loài. Các chỉ số đa dạng Shannon - Weiner, Eveness và Simpson lần lượt là: H‘ = 3,28; E = 0,52; D = 0,74. Sản lượng nhóm cá đáy chiếm ưu thế nhất, tiếp theo nhóm giáp xác. Tỷ lệ sản lượng thay đổi đáng kể theo mùa, thể hiện rõ ở vùng ven bờ với sự gia tăng tỷ lệ giáp xác trong mùa gió Tây Nam.

Vai trò của khuyết nguyên tử và điện trường song song trong điều khiển tính chất điện tử của graphene nanoribbons: Sự khác biệt giữa dạng biên armchair và zigzag

Nguyễn Thị Kim Quyên, Ngô Văn Chinh, Phạm Nguyễn Hữu Hạnh, Vũ Thanh Trà
Tóm tắt | PDF
Đề tài khảo sát cấu trúc điện tử và một số đặc trưng dẫn của graphene nanoribbons (GNRs) theo hai dạng biên armchair (AGNRs) và zigzag (ZGNRs) dưới tác dụng của khuyết một nguyên tử và điện trường song song bằng phương pháp gần đúng liên kết mạnh và phương pháp luận hàm Green. Khảo sát M = 14, kết quả cho thấy rằng, với sự tác động đồng thời của hai tác nhân, độ rộng vùng cấm của vật liệu đã mở ra, vật liệu đã có thể chuyển trạng thái từ kim loại sang bán dẫn - điện môi. Ngoài ra, kết quả cho thấy khuyết nguyên tử đóng vai trò mạnh mẽ trong cấu trúc AGNRs; trong khi đó, ảnh hưởng của điện trường song song lại chiếm ưu thế trong mô hình ZGNRs. Đặc biệt, với sự kết hợp của hai kích thích, hiệu ứng tổng hợp trở nên rõ nét hơn. Như vậy, các kết quả thu được mang ý nghĩa của việc gợi ý phát triển các mô hình tiên đoán, nhằm ứng dụng vật liệu AGNRS và ZGNRs trong các lĩnh vực nhiệt điện, điện tử và  bán dẫn trong tương lai.

Leptogenesis trong mô hình đối xứng A4 modular cho khu vực lepton với cơ chế seesaw tối thiểu

Nguyễn Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Thanh Phong
Tóm tắt | PDF
Nhóm gián đoạn A4 modular trong mô hình siêu đối xứng tối thiểu, với cơ chế seesaw loại I tối giản để sinh khối lượng các neutrino được đề xuất nhằm hạn chế số lượng các tham số tự do và các trường mới khi mở rộng mô hình chuẩn. Kết quả tính số cho thấy, mô hình đề xuất đã giải thích thỏa đáng tất cả các số liệu thí nghiệm các lepton ở độ chính xác . Dựa trên các số liệu thực nghiệm, các giá trị được phép của các tham số của mô hình cũng được tìm thấy. Quá trình leptogenesis cũng đã được tính toán, kết quả tính số chỉ ra rằng, bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất của Vũ trụ đã được giải thích thỏa đáng bởi mô hình đề xuất trong nghiên cứu này.

So sánh đặc điểm hình thái, cấu trúc giải phẫu của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) được trồng tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng

Phùng Thị Hằng, Nguyễn Trọng Hồng Phúc, Phan Thành Đạt, Võ Thị Hạnh, Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Phúc Đảm, Nguyễn Khởi Nghĩa
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát và xây dựng hệ thống dữ liệu về điều kiện đất trồng, hình thái, giải phẫu (ở từng giai đoạn khác nhau) của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) tại vùng đồng bằng sông Cửu long (với 3 địa điểm nghiên cứu là Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang). Kết quả cho thấy tại ba địa điểm nghiên cứu cây xuyên tâm liên đều đạt tốt các chỉ số sinh trưởng (chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá). Trong đó, mẫu thu tại địa điểm Cần Thơ đạt ở mức cao hơn 2 địa điểm còn lại. Đặc điểm đặc biệt của đất ở khu vực này là hàm lượng chất hữu cơ cao. Cấu trúc giải phẫu của thân và lá cây xuyên tâm liên ở các giai đoạn khác nhau đã được mô tả. Kích thước, số lượng một số loại mô có khả năng dự trữ (các hợp chất thứ cấp, dược liệu) và biểu hiện đặc tính thích nghi đã được đo đếm, thống kê và so sánh. Các số liệu này có thể giúp xác định các giai đoạn khai thác cây xuyên tâm liên một cách thích hợp hơn.