Ngày xuất bản: 28-02-2022

Hệ thống đếm dừa trái bằng phương pháp phân tích va đập

Nguyễn Chánh Nghiệm, Nguyễn Thanh Tuấn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này khảo sát quá trình va đập của vật rơi từ đó phát triển giải thuật đếm số lượng các sản phẩm củ, quả sau thu hoạch chịu được va đập, cụ thể là ứng dụng đếm dừa trái với kỳ vọng đạt năng suất và độ chính xác cao. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát nhu cầu thực tế, thống kê phổ khối lượng trái, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đếm, thiết kế một hệ thống băng tải vận chuyển dừa với các tấm chắn có lắp load cell được đặt tại cửa chặn của băng tải để dừa trái va đập vào khi rơi xuống. Tín hiệu va đập được thu thập bằng thiết bị myRIO và xử lý thời gian thực bằng phần mềm LabVIEW. Kết quả ban đầu cho thấy hệ thống đếm dừa bằng phương pháp phân tích lực va đập dùng cảm biến lực đạt được năng suất 11.640 trái trên giờ với độ chính xác 97%, là tiền đề cho việc phát triển hệ thống đếm năng suất cao bằng phương pháp phân tích va đập để có thể ứng dụng đếm thực tế tại các cơ sở thu mua hiện nay.

Khảo sát kỹ thuật học sâu trên bài toán chẩn đoán hư hỏng động cơ điện dựa trên tiếng ồn vận hành

Nguyễn Chí Ngôn, Lê Thanh Tú, Lương Hoàng Vĩnh Thuận, Nguyễn Chánh Nghiệm
Tóm tắt | PDF
Phát hiện sớm sự cố động cơ điện góp phần hạn chế gián đoạn hoạt động sản xuất công nghiệp. Phương pháp đo dùng cảm biến có độ tin cậy cao, song việc lắp đặt mất thời gian và chi phí. Việc xây dựng ứng dụng điện thoại để chẩn đoán sự cố động cơ điện thu hút nhiều nghiên cứu. Bài báo tiến hành khảo sát khả năng chẩn đoán lỗi động cơ điện thông qua nhận diện ảnh phổ tín hiệu âm thanh vận hành dùng mạng neuron học sâu GoogLeNet. Dữ liệu âm thanh được lọc nhiễu, chuẩn hóa biên độ và dựng ảnh phổ bằng phép biến đổi wavelet. Tập ảnh phổ được dùng để huấn luyện và kiểm tra mạng. Mạng GoogLeNet cũng được khảo sát hiệu quả huấn luyện thông qua việc thay đổi các tham số cơ bản. Sau đó, mạng được kiểm tra trên tập dữ liệu độc lập. Kết quả cho thấy mạng nhận diện 3 sự cố thông dụng, gồm mất pha, cọ phim và hỏng bạc đạn, với tỷ lệ chính xác đạt 94,21%. Thí nghiệm cũng cho thấy khả năng phát triển ứng dụng điện thoại là khả thi.

Thiết kế hệ thống điều khiển giám sát trạm bơm trên nền tảng IoT công nghiệp

Nguyễn Khắc Nguyên, Đặng Toàn Thiện, Nguyễn Trọng Khang , Lưu Trọng Hiếu
Tóm tắt | PDF
Trong những năm gần đây, các ứng dụng sử dụng hệ thống Internet vạn vật - IoT (Internet of Things) đang ngày càng phát triển bởi khả năng mềm dẻo trong thiết kế phần cứng và thu thập dữ liệu. Tuy nhiên, độ ổn định theo thời gian và tính bảo mật từ các hệ tự thiết kế không cao. Bài báo trình bày một phương pháp thiết kế hệ IoT theo chuẩn công nghiệp nhằm tăng cường bảo mật và duy trì tính ổn định cho hệ thống. Một mạng SCADA điều khiển PLC S7-1200 thông qua chuẩn KepServerEx được sử dụng để giám sát thu thập dữ liệu từ các trạm bơm. Kết nối mạng riêng ảo virtual private network (VPN) được dùng để truyền tín hiệu điều khiển và thu thập dữ liệu máy chủ về các trạm và ngược lại. Ngoài ra, hệ thống còn có thể đăng nhập từ bên ngoài thông qua chức năng truy cập từ xa. Kết quả cho thấy hệ thống hoạt động ổn định và có thể thu thập dữ liệu theo thời gian thực. Kết quả của bài báo này là tiền đề để tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu hơn về lĩnh vực IoT theo chuẩn công nghiệp. 

Tổng hợp vật liệu Fe3O4/lignin ứng dụng xử lý methylene blue

Cao Lưu Ngọc Hạnh, Lương Huỳnh Vủ Thanh, Đặng Huỳnh Giao, Phạm Mai Hương, Lý Thị Huyền Trang, Hà Tấn Tâm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng hợp vật liệu Fe3O4/lignin và đánh giá khả năng xử lý methylene blue của vật liệu. Trong đó, Fe3O4 được tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa, lignin được trích ly từ bã mía và vật liệu Fe3O4/lignin được kết hợp thông qua tác nhân liên kết citric acid. Các vật liệu sau khi tổng hợp được đánh giá bởi các phương pháp phân tích hiện đại như kỹ thuật nhiễu xạ tia X để xác định đặc điểm cấu trúc của các hạt Fe3O4; kỹ thuật quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier để xác định sự có mặt của các liên kết trong phân tử vật liệu hấp phụ; kính hiển vi quang học để xác định hình thái bề mặt của Fe3O4/lignin. Độ bão hòa từ của các hạt Fe3O4 và Fe3O4/lignin được xác định bằng từ kế mẫu rung lần lượt là 95 và 49,5 emu.g-1. Khả năng hấp phụ và nhả hấp phụ methylene blue của Fe3O4/lignin được đánh giá bằng phương pháp UV-Vis. Kết quả cho thấy hiệu suất hấp phụ tối đa của Fe3O4/lignin đối với metylen blue có thể đạt 96,53% ở pH 6-7 trong 60 phút và hiệu suất nhả hấp phụ là 66,5% trong 75 phút. Việc xử lý metylene blue tuân theo mô hình động học giả kiến bậc hai và mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir.

Thực trạng công tác giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Phan Chí Nguyện, Lê Văn Phương, Phạm Thanh Vũ, Nguyễn Thị Hồng Điệp
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến công tác giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai. Nghiên cứu thu thập các số liệu liên quan, phỏng vấn các tổ chức kinh tế và tham vấn ý kiến chuyên gia để xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố bằng phương pháp đánh giá đa tiêu chí (MCE). Kết quả đã xác định được ba nhóm yếu tố chính và 12 yếu tố phụ tác động đến công tác giao đất, cho thuê đất với yếu tố nguồn vốn giải phóng mặt bằng, khả năng tài chính của tổ chức kinh tế có mức độ tác động nhiều. Yếu tố hỗ trợ vay vốn, giá đất ít ảnh hưởng. Các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế cũng đã được đề xuất. Trong đó, các giải pháp về nguồn vốn phục vụ giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch và đánh giá khả năng tài chính của tổ chức kinh tế trước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất trong thời gian tới nên ưu tiên triển khai.

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất tại huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang

Phạm Thanh Vũ, Phan Chí Nguyện, Nguyễn Thanh Chánh , Lê Quang Trí
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Tân Phước. Nghiên cứu đã tham vấn 72 chuyên gia để xác định các yếu tố và mức độ tác động bằng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP). Kết quả cho thấy đối với nhóm đất nông nghiệp các yếu tố thổ nhưỡng, nguồn nước, khả năng thị trường tiêu thụ, thời tiết, lợi nhuận và giá cả sản phẩm có sự tác động nhiều đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất. Đối với nhóm đất phi nông nghiệp, yếu tố cung cấp tài chính, khả năng tài chính của chủ đầu tư, người đề xuất thực hiện và chủ dự án thực hiện là những yếu tố được quan tâm nhiều của chuyên gia. Trái lại, yếu tố chính sách xử lý vi phạm ít được quan tâm. Từ đó, 09 giải pháp cho thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp được đề xuất. Trong đó, giải pháp cải tạo thổ nhưỡng, nguồn nước và thị trường tiêu thụ sản phẩm cần ưu tiên thực hiện. Bên cạnh đó, 11 giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp được đề xuất, trong đó chú trọng các giải pháp về chính sách cung cấp tài chính, khả năng tài chính của chủ đầu tư, người đề xuất thực hiện và chủ thực hiện dự án.

Nghiên cứu giải pháp xử lý phổ nhiễu xạ tia X bằng phần mềm python

Nguyễn Duy Sang
Tóm tắt | PDF
Phổ nhiễu xạ tia X (XRD) thu được từ máy quang phổ nhiễu xạ tia X thường ứng dụng trong nghiên cứu định lượng cấu trúc của mẫu dạng bột. Việc khảo sát phổ XRD dựa vào góc lệch giữa tia tới và tia nhiễu xạ của mỗi loại vật liệu để xác định thành phần cấu trúc của nó. Mỗi phổ XRD sẽ là sự phụ thuộc của cường độ nhiễu xạ vào 2 lần góc nhiễu xạ có dạng đặc trưng theo các đỉnh phổ. Trong bài viết này, phổ XRD được mô phỏng, phân tích và xử lý bằng phần mềm Python. Phổ XRD thu được từ thực nghiệm gồm nhiều đỉnh phức tạp được xử lý và xác định các đỉnh đặc trưng cho tinh thể. Kết quả cho thấy bột ớt có một đỉnh chính nằm ở góc nhiễu xạ khoảng 22,010 chứng tỏ bên trong bột ớt có chứa khoáng chất silicat cần xác định. Các số liệu mô phỏng và thực nghiệm bước đầu sẽ được xử lý tiếp cận với máy học để đánh giá kết quả thu được.

Nghiên cứu đặc tính điện tử và phổ hấp thụ của chấm lượng tử penta-graphene

Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thị Tường Vy, Huỳnh Nhựt Hào, Trần Minh Luân
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, đặc tính điện tử và tính chất quang của chấm lượng tử penta-graphene với kích thước khác khau hoặc được pha tạp boron (B), nitrogen (N) và đồng pha tạp boron - nitrogen (BN) tại các vị trí khác nhau được khảo sát một cách có hệ thống bằng cách sử dụng lý thuyết phiếm hàm mật độ và hàm Green không cân bằng. Cụ thể, cấu trúc vùng, mật độ trạng thái, phổ hấp thụ của tất cả mẫu được nghiên cứu một cách chi tiết. Kết quả cho thấy đặc tính điện tử và tính chất quang của chấm lượng tử penta-graphene không những phụ thuộc vào kích thước mà còn phụ thuộc vào loại nguyên tố và vị trí pha tạp. Sự đa dạng về đặc tính điện tử và tính chất quang của các mẫu nghiên cứu cho thấy chấm lượng tử penta-graphene là một ứng viên sáng giá cho sự phát triển các thiết bị quang điện tử.

Phân tích tin cậy đối với chuỗi dữ liệu mô phỏng có tính lặp và tính chu kỳ

Trần Văn Lý, Bùi Phong Quy, Nguyễn Lê Phúc Anh, Trang Thị Hiền, Phan Thị Mỹ Tiên
Tóm tắt | PDF
Kiểm định về sự phù hợp với các xác suất chuyển và kiểm định về tính độc lập của chuỗi dữ liệu mô phỏng là hai dạng phân tích tin cậy được đề cập trong bài báo. Các kiểm định này được áp dụng đối với chuỗi dữ liệu mô phỏng có tính lặp và tính chu kỳ. Chuỗi dữ liệu mô phỏng được giả thiết là chuỗi Markov bậc nhất có các xác suất chuyển ổn định. Dựa vào một số kết quả nghiên cứu đã có về những suy luận thống kê trên các chuỗi Markov, hai dạng thống kê  – bình phương được xây dựng để sử dụng trong hai kiểm định đã nêu. Áp dụng minh họa được thực hiện trên chuỗi dữ liệu mô phỏng của dãy chỉ số sáng hàng ngày được khởi tạo từ mô hình Markov ẩn với bốn trạng thái.

Sự tồn tại nghiệm của bài toán cân bằng ngẫu nhiên

Nguyễn Hồng Quân
Tóm tắt | PDF
Bài báo này nghiên cứu sự tồn tại nghiệm cho bài toán cân bằng ngẫu nhiên. Một kết quả tồn tại mới được thiết lập trên cơ sở dùng khái niệm về tính tựa đơn điệu vòng quanh ngẫu nhiên, không dùng các giả thiết về tính lồi. Vài ví dụ được cung cấp nhằm chỉ ra sự thuận lợi của kết quả.

Vi phân suy rộng của hàm giá trị tối ưu trong điều khiển tối ưu có tham số cho phương trình đạo hàm riêng elliptic

Nguyễn Thành Quí, Đào Duy Phúc
Tóm tắt | PDF
Công trình này thuộc hướng nghiên cứu sự ổn định vi phân của các bài toán điều khiển tối ưu có tham số cho phương trình vi phân đạo hàm riêng elliptic nửa tuyến tính. Bài báo thu được các kết quả mới theo hướng nghiên cứu này bao gồm việc thiết lập các công thức vi phân của ánh xạ nghiệm của phương trình vi phân đạo hàm riêng elliptic nửa tuyến tính và hàm mục tiêu của bài toán điều khiển tối ưu có tham số. Qua đó, công thức tính toán dưới vi phân chính quy (dưới vi phân Fréchet) được xây dựng cho hàm giá trị tối ưu của bài toán điều khiển tối ưu có tham số đang xét.

Phân lập, tuyển chọn và định danh nấm men trong lên men rượu vang cam sành (Citrus nobilis Var. Typica Hassk.)

Nguyễn Phúc Trường, Nguyễn Văn Thành
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân lập và tuyển chọn nấm men có hoạt tính lên men cao từ quả cam sành, để lên men rượu vang cam sành chất lượng cao. Kết quả đã phân lập được 15 dòng nấm men từ dịch quả cam sành thu thập tại các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Dựa vào khóa phân loại nấm men, 15 dòng nấm men phân lập thuộc 02 giống Saccharomyces và Hanseniaspora. Dòng nấm men TVK1 phân lập được từ dịch quả cam thu ở Trà Vinh thuộc giống Saccharomyces lên men rượu vang cam tốt nhất như lên men nhanh nhất (14 giờ), hàm lượng ethanol cao nhất (13,0% v/v) và lượng đường sót thấp nhất (7,17 oBrix). Rượu vang cam sành lên men từ nấm men TVK1 với các thông số ban đầu: 0,15% enzyme pectinase, 23°Brix, pH 4,0 và nấm men 107tế bào/mL, lên men ở 30oC, 8 ngày cho độ cồn cao nhất (13% v/v), mùi vị thơm ngon, màu sắc sáng đẹp đặc trưng của sản phẩm rượu vang cam. Định danh dòng nấm men TVK1 bằng phương pháp giải trình tự DNA đã xác định được TVK1 tương đồng 99% với Saccharomyces cerevisiae.

Thành phần dinh dưỡng và hoạt tính kháng oxy hóa của dịch thủy phân nấm men bia Saccharomyces cerevisiae

Huỳnh Xuân Phong, Nguyễn Thị Kim Huê, Lưu Minh Châu, Bùi Hoàng Đăng Long, Nguyễn Ngọc Thạnh
Tóm tắt | PDF
Bã men bia là sản phẩm phụ thứ hai từ ngành công nghiệp sản xuất bia. Đây là một nguồn cung cấp protein, vitamin B, khoáng chất và một số thành phần có giá trị như β-glucan, mono- và oligosaccharide. Với các lợi ích từ bã men bia, nghiên cứu được thực hiện nhằm tận dụng bã men bia để sản xuất dịch thủy phân nấm men vừa có giá trị dinh dưỡng, vừa có chứa các thành phần phenolic với các hoạt tính kháng oxy hóa. Bã men bia Saccharomyces cerevisiae được xử lý đắng và thủy phân ở nhiệt độ 50°C trong 24 giờ. Kết quả đã xác định được thành phần dinh dưỡng có trong dịch thủy phân từ bã men bia với hàm lượng protein là 50,73%, chất béo là 1,45% và hàm lượng tro là 22,54% (tính theo vật chất khô). Thành phần các khoáng chất vi lượng bao gồm Na (452,8 mg/L), Ca (29,0 mg/L), K (2.886,8 mg/L), Mg (59,1 mg/L) và vitamin B3 là 12,0 mg/L. Hàm lượng polyphenol tổng hiện diện trong dịch thủy phân nấm men là 105,13 mg GAE/mL. Khả năng kháng oxy hóa của dịch thủy phân nấm men được đánh giá qua khả năng khử gốc tự do DPPH và khử ion Fe3+ với giá trị IC50 lần lượt là 103,89 μg/mL và 2,88 μg/mL. Các thành phần dinh dưỡng và hoạt tính kháng oxy hóa của dịch thủy phân nấm men bia cho thấy tiềm năng ứng dụng trong chế biến thực phẩm cũng như phát triển các sản phẩm chức năng.

Phân tích mô tả định lượng và phân tích thành phần chính đối với đặc điểm cảm quan của củ cải và dưa leo muối chua trong môi trường cám gạo

Nguyễn Minh Thủy, Lê Thị Tuyết Như, Hồ Thị Cẩm Nhi, Nguyễn Thị Huỳnh Nhi, Trần Chí Bên, Hồ Thị Ngân Hà, Ngô Văn Tài
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu là sử dụng phương pháp phân tích mô tả định lượng (QDA) để đánh giá các thuộc tính cảm quan của sản phẩm củ cải trắng và dưa leo muối chua trong môi trường cám gạo. Ba mươi cảm quan viên được lựa chọn và đào tạo để đánh giá các thuộc tính màu sắc, hình dạng, kết cấu, hương vị và khả năng chấp nhận tổng thể của hai sản phẩm. Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) được sử dụng để xác định hai thành phần chính quan trọng chiếm lần lượt là 88,75% và 81,40% phương sai. Tỷ lệ phối chế cám gạo: nước: muối là 49: 48: 3 (mẫu củ cải F3), 49: 48: 3 (mẫu dưa leo M3) và 45: 52: 3 (mẫu dưa leo M4) cho giá trị cảm quan cao và được yêu thích nhất. Kết quả thu nhận đã chứng minh tính hữu ích của phương pháp phân tích mô tả định lượng trong việc xác định và đo lường các đặc tính cảm quan của sản phẩm củ cải trắng và dưa leo muối chua trong môi trường cám gạo.

Ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng và ra hoa của cây hoa thược dược (Dahlia variablis Desf.)

Trần Thị Bích Vân, Lê Bảo Long, Nguyễn Thành Tấn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm tìm ra loại giá thể thích hợp cho cây hoa Thược dược sinh trưởng và ra hoa. Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới Khoa Nông Nghiệp – Trường Đại học Cần Thơ và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 6 lần lặp lại, gồm có 5 nghiệm thức là 5 công thức giá thể khác nhau. Nghiệm thức 1 giá thể phân rơm, các nghiệm thức khác là giá thể phối trộn trấu tươi: mụn xơ dừa theo thể tích với tỷ lệ 4:1, 3:2, 2:3 và 1:4. Kết quả thí nghiệm cho thấy cây hoa Thược dược sinh trưởng và ra hoa ở giá thể trấu tươi: xơ dừa (2:3) và giá thể phân rơm tốt hơn so với các nghiệm thức còn lại. Sinh trưởng của cây hoa Thược dược ở giá thể trấu tươi: xơ dừa (2:3) và giá thể phân rơm tương đương nhau; tuy nhiên, đường kính hoa khi trồng ở giá thể trấu tươi: xơ dừa (2:3) lớn hơn khi trồng với giá thể phân rơm (8,82 so với 8,03 cm).

Ảnh hưởng của tỏi lên đáp ứng miễn dịch của chim trĩ đối với vaccine phòng bệnh Newcastle

Bùi Thị Lê Minh, Nguyễn Mạnh Thường
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát các mức bổ sung tỏi (Allium sativum L.) trong khẩu phần cơ sở lên đáp ứng miễn dịch của chim trĩ đối với vaccine phòng bệnh Newcastle. Các chim trĩ một ngày tuổi (n=90) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm ba nghiệm thức với ba lần lặp lại. Chim trĩ ở nghiệm thức T0 không được bổ sung tỏi tươi trong khẩu phần cơ sở. Chim trĩ ở nghiệm thức T1 và T2 được bổ sung lần lượt 1 và 2% tỏi tươi trong khẩu phần cơ sở. Thí nghiệm kéo dài 12 tuần. Tất cả chim trĩ được chủng vaccine chống virus gây bệnh Newcastle vào lúc 7, 21 và 60 ngày tuổi. Sáu mẫu máu được lấy từ mỗi nghiệm thức vào lúc 49, 74 và 81 ngày tuổi. Mức kháng thể trong huyết thanh chống lại virus gây bệnh Newcastle được xác định bằng xét nghiệm HI. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu giá kháng thể của chim trĩ vào lúc 74 và 81 ngày tuổi ở nghiệm thức T1 và T2 cao hơn đáng kể so với hiệu giá kháng thể của chim trĩ ở nghiệm thức T0. Bổ sung tỏi tươi vào khẩu phần cơ sở làm tăng hiệu giá kháng thể chống lại virus gây bệnh Newcastle ở chim trĩ được chủng vaccine phòng bệnh Newcastle.

Khảo sát ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng và ra hoa của cây hoa Cát Tường (Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn)

Lê Bảo Long, Trần Thị Bích Vân
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự sinh trưởng và ra hoa của cây hoa Cát Tường (Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn) khi được trồng trên giá thể mụn xơ dừa và trấu tươi với các tỷ lệ trộn khác nhau tại nhà lưới thuộc Khoa Nông nghiệp - Trường Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 5 nghiệm thức là 5 công thức phối trộn giá thể khác nhau. Mỗi nghiệm thức có 8 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 chậu, mỗi chậu trồng 2 cây. Nghiệm thức 1 (mụn xơ dừa), các nghiệm thức kế tiếp có tỷ lệ mụn xơ dừa: trấu tươi là 4:1, 3:2, 2:3 và 1:4. Kết quả cho thấy cây hoa Cát Tường sinh trưởng và ra hoa tốt ở giá thể phối trộn mụn xơ dừa: trấu tươi tỷ lệ 2:3 hơn so với các tỷ lệ phối trộn khác. Cây có chiều cao (28,2 cm), đường kính thân (3,12 mm), đường kính tán cây (13,3 cm), đường kính chồi (2,94 mm), đường kính hoa (5,8 cm) và chiều cao hoa (10,7 cm), thời gian hoa nở hoàn toàn sau khi trồng (100,0 ngày), thời gian từ khi hoa nở hoàn toàn đến khi hoa tàn (độ bền hoa) là 10,4 ngày.

Khảo sát sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc lá nhám (Zinnia elegans) thủy canh ở các mức độ dinh dưỡng Hoagland và Arnon khác nhau

Lê Bảo Long, Trần Thị Bích Vân
Tóm tắt | PDF
Nhằm tìm ra mức độ dinh dưỡng thích hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc lá nhám thủy canh, một nghiên cứu được thực hiện tại nhà lưới Khoa Nông nghiệp - Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 12/2019 đến 2/2020. Dinh dưỡng sử dụng trong thí nghiệm là Hoagland và Arnon (1950) [HO-1950]. Mỗi nghiệm thức có 6 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một chậu, mỗi chậu một cây. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức với 5 mức độ dinh dưỡng khác nhau. Nghiệm thức 1 sử dụng dinh dưỡng HO-1950 100%, các nghiệm thức tiếp theo là HO-1950 50%, HO-1950 25%, HO-1950 12,5%, và HO-1950 6,25% (tương ứng với EC = 2,80, 1,40, 0,70, 0,35 và 0,175 mS/cm theo thứ tự). Kết quả thí nghiệm cho thấy cây sinh trưởng tốt ở mức độ dinh dưỡng HO-1950 50% (EC = 1,4 mS/cm) và HO-1950 100% (EC = 2,8 mS/cm), cây có chiều cao tương ứng là 16,3 và 15,6 cm, đường kính tán cây 13,7 và 13,1 cm. Cây trồng ở dinh dưỡng HO-1950 100% có số hoa và đường kính hoa cao hơn so với ở dinh dưỡng HO-1950 50% (4,8 hoa và 5,1 cm so với 4,2 hoa và 4,8 cm) nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê.

Phân tích mối tương quan trên toàn bộ hệ gene đối với tính trạng màu sắc hạt gạo lức và độ trở hồ các giống lúa mùa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Thành Tâm, Nguyễn Thanh Liêm, Huỳnh Kỳ, Trần Minh Truyền, Võ Thị Bích Nhiên, Nguyễn Gia Hân, Nguyễn Văn Mỹ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối tương quan giữa tính trạng màu sắc hạt gạo lức và cấp độ trở hồ, đồng thời xác định mối tương quan giữa tính trạng hình thái và phẩm chất đối với các đặc điểm di truyền (các đa hình nucleotide đơn – SNP) để xác định được các SNP ứng viên cho việc đánh giá màu sắc hạt gạo lức cũng như cấp độ trở hồ. Màu sắc hạt gạo lức được mô tả cảm quan. Cấp độ trở hồ của 65 giống lúa mùa được đánh giá bằng phương pháp sinh hóa. Dung dịch KOH 1,7% (w/v) được sử dụng để đánh giá độ trở hồ của các giống lúa ở nhiệt độ phòng trong 23 giờ. Các số liệu của hai tính trạng này được kết hợp với số liệu 24.946 SNP để phân tích mối tương quan trên toàn bộ hệ gene (GWAS) thông qua mô hình tuyến tính tổng quát (GLM). Kết quả 18 SNP được xác định là ứng viên cho tính trạng màu sắc hạt gạo lức ở nhiễm sắc thể 6, 8 và 12; trong đó, có 5 SNP ứng viên định vị trên 5 gene khác nhau liên quan đến tính trạng này. Qua đó, kiểu allele GCTCGCATAAGATTTT được xác định ở 16 SNP ứng viên có liên quan đến tính trạng màu trắng đục của hạt gạo lức. Đối với tính trạng độ trở hồ, chỉ có 2 SNP ứng viên được tìm thấy. Trong đó, SNP ứng viên S08_10088669 có liên quan đến nhiệt hóa hồ thấp với allele G.

Sự vấy nhiễm và đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli trên thịt heo và môi trường tại cơ sở giết mổ thuộc huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Trần Thị Lệ Triệu, Nguyễn Khánh Thuận, Nguyễn Văn Toàn, Lâm Tuấn Kiệt, Lý Thị Liên Khai
Tóm tắt | PDF
Từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021, tổng số 58 mẫu (14 mẫu thịt heo và 44 mẫu môi trường) được thu thập tại một cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và một cơ sở giết mổ tập trung. Việc áp dụng tiêu chuẩn TCVN 7924-1:2008 giúp xác định Escherichia coli (E. coli) hiện diện với tỷ lệ cao trên 50/58 mẫu kiểm tra (86,21%). Tỷ lệ vấy nhiễm E. coli ở cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và cơ sở giết mổ tập trung không khác biệt với tỷ lệ lần lượt là 92,86% và 80,00%. Tỷ lệ vấy nhiễm của vi khuẩn E. coli trên thịt heo là 78,57% và mẫu môi trường là 88,64%. Kết quả phân lập E. coli trên các mẫu môi trường với tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nền chuồng, sàn giết mổ (100,00%), kế đến là mẫu tay công nhân, dao (87,50%) và mẫu nước (75,00%). Khi đánh giá chất lượng thịt heo theo tiêu chuẩn TCVN 7046:2009 về chỉ tiêu E. coli thì chỉ có mẫu thịt ở cơ sở tập trung đạt tiêu chuẩn. Các chủng E. coli phân lập được đề kháng cao với ampicillin (79,17%), streptomycin (62,50%), amoxicillin/clavulanic acid (54,17%), nhưng còn nhạy cảm cao với doxycycline, ofloxacin (83,33%) và cefuroxime, colistin (75,00%). Các chủng E. coli phân lập được có sự đa kháng với kháng sinh, chiếm tỷ lệ 79,17% và phổ biến nhất là kiểu hình đa kháng Am+Ac, Am+Co+Sm+Ac.

Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh viêm tử cung tích mủ trên chó và theo dõi hiệu quả điều trị bệnh tại bệnh xá thú y Trường Đại học Cần Thơ

Trần Văn Minh, Lê Bình Minh, Trần Gia Quí, Nguyễn Chí Thành, Lê Quang Trung, Trịnh Thanh Phương
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu cắt ngang trên 291 chó cái có biểu hiện bất thường ở cơ quan sinh dục từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 06 năm 2021 tại Bệnh xá Thú y, Trường Đại học Cần Thơ với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ, triệu chứng lâm sàng thường gặp và đánh giá hiệu quả điều trị của các biện pháp can thiệp khi chó bị viêm tử cung tích mủ. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với siêu âm được sử dụng để đánh giá trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy chó bị viêm tử cung tích mủ chiếm tỷ lệ 16,49%. Chó mắc bệnh thường xuất hiện các triệu chứng lâm sàng phổ biến như uống nhiều nước, chảy dịch âm đạo, bụng to bất thường, hay liếm âm hộ. Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa các yếu tố tiêm thuốc ngừa thai và chó nuôi thả rong đối với bệnh. Biện pháp điều trị bằng phẫu thuật đạt tỷ lệ thành công là 100% so với biện pháp điều trị bảo tồn (40%). 

Đánh giá đặc tính sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của một số giống khoai lang có hàm lượng carotenoid cao trong điều kiện trồng chậu

Lê Thị Hoàng Yến, Phạm Thị Phương Thảo, Lê Văn Hòa, Trần Minh Mẫn
Tóm tắt | PDF
Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá đặc tính sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của bốn giống khoai lang trong điều kiện trồng chậu. Nghiên cứu được thực hiện tại hộ nông dân phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, từ tháng 6/2020 đến tháng 12/2020. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 nghiệm thức là bốn giống khoai lang: bí đỏ, Nhật vàng (HL518), Nhật cam (Kokey14), Tà Nung với 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là một chậu trồng khoai; đánh giá năng suất và phẩm chất ở thời điểm thu hoạch. Kết quả thí nghiệm cho thấy giống khoai lang Tà Nung và Nhật cam (Kokey 14) có chiều dài dây ngắn hơn so với hai giống còn lại. Giống khoai lang Nhật vàng (HL518) có số nhánh trên dây ít nhất. Giống khoai lang Nhật cam (Kokey 14) có năng suất củ thương phẩm (13,1 kg/10 chậu), năng suất tổng (14,7 kg/10 chậu) và hàm lượng carotenoid đạt cao nhất (7,2 mg/100 g KLCT). Giống Nhật vàng (HL518) và Tà Nung có hàm lượng tinh bột cao (trên 700 mg/g KLCT).

Ảnh hưởng thời điểm bổ sung thức ăn tổng hợp lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) giai đoạn

Lê Quốc Việt, Lý Văn Khánh, Trần Nguyễn Duy Khoa, Trần Ngọc Hải
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thời gian bổ sung thức ăn tổng hợp thích hợp lên sinh trưởng và đồng thời nâng cao tỷ lệ sống của cá chim vây vàng ở giai đoạn cá hương lên cá giống. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với thời điểm bổ sung thức ăn tổng hợp khác nhau (15, 18, 21, 24 ngày tuổi) với 3 lần lặp lại. Cá được bố trí trong bể nhựa có thể tích 100 L/bể, độ mặn 30‰ và mật độ ương 1 con/lít. Cá có khối lượng và chiều dài trung bình ban đầu lần lượt là 0,03 g/con và 9,02 mm/con. Sau 30 ngày ương, không có sự khác biệt về tăng trưởng chiều dài và chiều cao thân giữa các nghiệm thức (DLG và SGRL, DHG và SGRH, p > 0,05), nhưng tăng trưởng khối lượng cá (DWG và SGRW) ở nghiệm thức bổ sung ngày 15-18  tuổi (DAH) cao hơn đáng kể so với 24 DAH  (p < 0,05). Tỷ lệ sống của cá đạt 91,48 -97,41%, nhưng không có sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức (p > 0,05). Kết quả cho thấy nên bắt đầu cho cá ăn thức ăn công nghiệp từ ngày 15-18 DAH.

Đánh giá chất lượng nước và thải lượng từ ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thâm canh ở tỉnh Sóc Trăng

Ngô Thụy Diễm Trang, Trần Đình Duy, Trịnh Phước Toàn, Nguyễn Hải Thanh, Nguyễn Thạch San, Trần Sỹ Nam
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định môi trường nước ao nuôi và thải lượng từ ao tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) nuôi thâm canh với mật độ nuôi khác nhau ở tỉnh Sóc Trăng. Các ao nuôi có độ sâu trung bình 1,4 m và diện tích mặt nước 3.100-4.700 m2. Nhóm ao nuôi mật độ thấp là 80-90 con/m2 và nhóm ao nuôi mật độ cao là 130-140 con/m2. Mẫu nước được thu và đánh giá từ đầu vụ đến cuối vụ nuôi với tần suất 2 tuần/1 lần. Chất lượng nước trong các đợt thu mẫu được người nuôi duy trì ở ngưỡng thích hợp cho tôm thẻ chân trắng sinh trưởng và nằm trong quy định của QCVN 02-19:2014/BNNPTNT, ngoại trừ pH và độ kiềm trong ao nuôi mật độ cao. Tuy nhiên, để sản xuất 1 tấn tôm cần có 6.644-8.289 m3 nước thải, 27,9-29,9 m3 nước xi phông, 145-179 kg COD, 12,5-16,3 kg P và 57,6-77,5 kg TKN thải vào môi trường qua quá trình thay nước và xi phông. Vì vậy, việc quản lý và xử lý nước thay ra và nước xi phông từ các ao nuôi tôm thâm canh là rất cần thiết để giảm thiểu lượng chất thải đưa vào môi trường xung quanh khu vực nuôi.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

Trịnh Thị Hương, Lữ Hùng Minh
Tóm tắt | PDF
Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm. Tại Việt Nam, vấn đề này được xem là một nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi tất cả các lĩnh vực ban ngành cần có biện pháp lâu dài thực hiện mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người. Thực hiện chủ trương này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường và đưa vào chương trình học các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông. Ở cấp học tiểu học, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp giảng dạy ở nhiều phân môn với nhiều cấp độ khác nhau như tích hợp toàn phần, tích hợp bộ phận, tích hợp liên hệ… Và trong thực tế, việc tích hợp này cũng tồn tại một số vấn đề khó khăn thách thức. Kết quả khảo sát một số vấn đề về tình hình giáo dục bảo vệ môi trường tại một số trường tiểu học của thành phố Cần Thơ được trình bày trong nghiên cứu này, từ đó, một số biện pháp được đề xuất để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học.

Ứng dụng lý thuyết nền nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện luận văn của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ

Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Trần Khánh Minh, Lê Vân Thủy Tiên, Trần Thị Phụng Hà
Tóm tắt | PDF
Cải tiến chất lượng luận văn tốt nghiệp (LVTN) cho sinh viên (SV) khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn là cần thiết trong bối cảnh các nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế tại Trường Đại học Cần Thơ. Lý thuyết nền được ứng dụng để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện LVTN của SV tại Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn và Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long thông qua khảo sát 20 giảng viên hướng dẫn và 28 SV đã và đang thực hiện LVTN từ tháng 11/2020 đến tháng 01/2021. Kết quả đã xây dựng nên mô hình 4S mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng LVTN bao gồm nhóm các yếu tố liên quan đến bản thân SV (Student), giảng viên hướng dẫn (Supervisor), nhà trường (School) và xã hội (Society). Dựa trên mô hình 4S, một số đề xuất về các nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng LVTN cho SV được đưa ra. Việc áp dụng lý thuyết nền cho thấy đây là một cách tiếp cận phù hợp trong nghiên cứu định tính, có thể vận dụng trong nghiên cứu các vấn đề xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Cần Thơ nói riêng và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Yếu tố huyền thoại trong truyện Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

Hoàng Thị Thùy Dương
Tóm tắt | PDF
Bài viết phân tích các đặc điểm của yếu tố huyền thoại trong truyện Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Các yếu tố này là kết quả của sự kế thừa kho tàng thần thoại của nhân loại. Yếu tố huyền thoại trong truyện Việt Nam giai đoạn này được phân tích trong bốn phương diện: mô típ  nhân vật, không gian, thời gian. Việc tìm hiểu về các yếu tố này góp phần lí giải đặc điểm của văn học giai đoạn này trong hành trình kế thừa huyền thoại.

Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long

Trương Thị Thúy Hằng, Võ Thành Danh, Phan Đình Khôi, Huỳnh Việt Khải
Tóm tắt | PDF
Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học cộng nghệ và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long được trình bày trong bài viết. Có hai loại dữ liệu được dùng trong phân tích là dữ liệu điều tra sơ cấp với 53 doanh nghiệp được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và dữ liệu thứ cấp với 1.521 doanh nghiệp được khảo sát năm 2019. Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả và mô hình hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong thời gian qua các doanh nghiệp đã thực hiện nhiều hoạt động về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, kinh doanh, và quản trị doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vốn chủ sở hữu, tài sản hiện hành, quy mô doanh nghiệp là các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

So sánh hiệu quả tài chính mô hình chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học với chăn nuôi truyền thống tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

Nguyễn Tấn Lợi, Nguyễn Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả tài chính mô hình chăn nuôi vịt  theo hướng an toàn sinh học (ATSH) với mô hình truyền thống (MHTT) để có những đề xuất phù hợp cho phát triển bền vững nghề nuôi vịt tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong tương lai. Số liệu và thông tin được thu thập từ phỏng vấn những người am hiểu và điều tra hai nhóm hộ chăn nuôi vịt theo hướng ATSH (30 hộ) và MHTT (30 hộ) tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Thống kê mô tả, kiểm định T-test và phân tích SWOT được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy mô hình chăn nuôi vịt hướng ATSH mang lại hiệu quả cao hơn thể hiện ở tỷ lệ nuôi sống cao, sản lượng cao, trọng lượng xuất chuồng lớn và đồng đều, dẫn đến lợi nhuận cao, hiệu quả đồng vốn và hiệu quả công lao động gia đình cao hơn so với chăn nuôi truyền thống (P

So sánh hiệu quả đồng vốn của hộ sản xuất lúa theo qui mô đất khác nhau tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

Trần Thanh Cầm, Nguyễn Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Canh tác lúa là hoạt động sử dụng tài nguyên đất đai lớn nhất ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long nhưng qui mô canh tác không đều ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Mục tiêu của bài viết này là so sánh hiệu quả đồng vốn theo qui mô đất của mô hình sản xuất lúa ba vụ thông qua phỏng vấn 90 nông dân tại huyện Vũng Liêm, chia thành 3 nhóm theo qui mô đất ít, trung bình và nhiều. Thống kê mô tả và phân tích phương sai một nhân tố được sử dụng để phân tích và so sánh dữ liệu thu thập. Kết quả cho thấy trồng lúa mang lại lợi nhuận và việc làm cho nông dân. Hiệu quả đồng vốn có tính công lao động nhà tăng dần từ 0,65 ở nhóm đất ít lên 0,77 ở nhóm đất trung bình và 0,88 ở nhóm đất nhiều (P