Ngày xuất bản: 11-12-2025
Số báo đầy đủ
Nông nghiệp bền vững vì an ninh lương thực và an toàn thực phẩm
Thiết kế mô hình máy gieo sạ lúa theo cụm bằng nguyên lý hút chân không
Tóm tắt
|
PDF
Bài báo được thực hiện nhằm trình bày các kết quả nghiên cứu về mô hình máy sạ cụm bằng nguyên lý hút chân không. Thí nghiệm được tiến hành với các đường kính ống hút khác nhau, trong khi áp suất chân không được giữ cố định ở mức 12 kPa. Kết quả cho thấy, với đường kính ống hút 1,3 mm, độ chính xác trong việc hút đúng 1 hạt lúa ướt đạt cao nhất 66,7%. Đối với lúa khô, độ chính xác cao nhất là 72% khi sử dụng ống hút có đường kính ống hút 1,0 mm. Việc đánh giá khả năng hút và nhả hạt thành công, đường kính ống tăng thì khả năng hút và nhả hạt tăng, khả năng hút và nhả được hạt của lúa khô cao hơn lúa ướt khi sử dụng cùng đường kính ống hút.
Tuyển chọn và ứng dụng xạ khuẩn ưa nhiệt có khả năng phân giải cellulose trong nuôi trồng nấm rơm (Volvariella volvacea L.)
Tóm tắt
|
PDF
Trong nghiên cứu, việc phân lập và tuyển chọn được các dòng xạ khuẩn ưa nhiệt có khả năng phân giải cellulose từ rơm đã được thực hiện nhằm ứng dụng trong nuôi trồng nấm rơm. Tổng cộng có 12 dòng xạ khuẩn thể hiện khả năng phân giải CMC ở dải nhiệt độ từ 45℃ đến 60℃. Trong số đó, sáu dòng (R2, R4, R5, R8, Đ3 và Đ4) có hoạt tính phân giải mạnh, với đường kính vùng phân giải dao động từ 22 đến 28 mm. Đặc biệt, dòng R8 cho thấy hiệu quả phân giải rơm cao ở nhiệt độ 50℃ mà không gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình lan tơ của nấm rơm. Dựa trên đặc điểm hình thái và phân tích trình tự vùng gen 16S rRNA, dòng xạ khuẩn R8 được xác định thuộc loài Streptomyces thermoviolaceus, với mức độ tương đồng trình tự đạt 99,89%. Đáng chú ý, khi bổ sung S. thermoviolaceus R8 vào giá thể, năng suất nấm rơm thu được tăng đến 21,27% so với đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các dòng xạ khuẩn có tiềm năng ứng dụng trong việc xử lý rơm làm cơ chất trồng nấm, góp phần nâng cao hiệu quả trong nuôi trồng nấm.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ trưởng thành, thời gian lên men và nhiệt độ sấy đến hàm lượng các hợp chất sinh học và giá trị cảm quan của trà lá tía tô (Perilla frutescens (L.) Britt.)
Tóm tắt
|
PDF
Tía tô (Perilla frutescens (L.) Britt.) là loại thảo dược giàu hợp chất sinh học với khả năng kháng oxy hóa và hỗ trợ tích cực đến sức khỏe con người. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ tưởng thành của lá, đồng thời khảo sát thời gian lên men (0-4 giờ) và nhiệt độ sấy (60-80℃) đến hàm lượng các hợp chất sinh học và giá trị cảm quan của trà lá tía tô. Hàm lượng anthocyanin (TAC), polyphenol (TPC), flavonoid (TFC) tổng số và các thuộc tính cảm quan (màu sắc, mùi và vị) của sản phẩm đã được phân tích và đánh giá. Kết quả cho thấy, lá tía tô giàu hợp chất anthocyanin, polyphenol và flavonoid với TAC, TPC, TFC lần lượt là 207,58±0,04 μg/g, 250,74±0,08 mg GAE/g và 30,08±0,09 mg QE/g). Đồng thời, lên men trong 3 giờ và sấy đối lưu ở 70℃ duy trì tốt TAC, TPC, TFC của trà lá tía tô (4,31±0,22 μg/g, 11,18±0,31 mg GAE/g và 3,31±0,19 mg QE/g, tương ứng). Bên cạnh đó, trà lá tía tô cũng đạt giá trị cảm quan cao về màu sắc (4,20±0,79 điểm), mùi (4,10±0,32 điểm) và vị (4,10±0,88 điểm).
Tuyển chọn vi khuẩn lactic từ tôm thẻ chân trắng có tiềm năng sinh Bacteriocin ức chế Escherichia coli và Staphylococcus aureus
Tóm tắt
|
PDF
Hiện nay, bacteriocin được tổng hợp từ vi khuẩn lactic là hướng đi tiềm năng thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản và chất bảo quản trong thực phẩm. Trong nghiên cứu, các chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh bacteriocin được tuyển chọn bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch nhằm ức chế sự phát triển của Escherichia coli và Staphylococcus aureus được phân lập từ tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Tổng cộng 21 chủng vi khuẩn lactic đã được phân lập từ các trại nuôi tôm tại tỉnh Kiên Giang, trong đó 9 chủng thể hiện khả năng sinh bacteriocin ức chế cả hai loại vi khuẩn E. coli (Gram âm) và S. aureus (Gram dương), với đường kính vòng ức chế từ 4,0 đến 9,7 mm. Đáng chú ý, chủng VT3 cho thấy hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất và có độ tương đồng trình tự gen 16S rRNA đến 99,4% so với Weissella cibaria. Khả năng phát triển và sinh tổng hợp bacteriocin của chủng VT3 cao nhất khi được nuôi cấy trong môi trường MRS bổ sung 2% yeast extract, với hoạt tính kháng khuẩn 160 AU/mL và sinh khối 1,45 g/100 mL.
Sản xuất phô mai tươi từ sữa hoàn nguyên bằng phương pháp đông tụ với rennet và acid citric
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng quy trình sản xuất phô mai tươi từ sữa hoàn nguyên bằng phương pháp đông tụ với rennet và acid citric. Ảnh hưởng của các yếu tố, bao gồm độ pH (nồng độ acid citric), nhiệt độ và nồng độ rennet trong quá trình đông tụ hỗn hợp sữa đến chất lượng phô mai tươi được khảo sát. Kết quả thực nghiệm cho thấy thực hiện đông tụ sữa với dung dịch acid citric 0,1% (pH 5,94), ở 37°C và nồng độ rennet 0,04% cho phô mai có năng suất (21,53%) và hiệu suất thu hồi chất khô (53,25%) tốt hơn các mẫu thử nghiệm khác. Mẫu phô mai nghiên cứu (mẫu RS) có hàm lượng protein, lipid, carbohydrate, tro và độ ẩm đạt lần lượt là 18,5%, 3,72%, 8,54%, 1,94% và 67,3%. Mẫu RS ít tách huyết thanh hơn và kết cấu rắn chắc hơn so với phô mai đông tụ hoàn toàn bằng acid citric (mẫu CS) trong suốt quá trình bảo quản. Kết quả đánh giá cảm quan cho thấy mẫu RS có điểm kết cấu (4,00/5,00) và hương vị (4,20/5,00) đạt chất lượng cao hơn so với mẫu đối chứng CS (3,40 và 3,20). Kết quả nghiên cứu cho thấy phô mai tươi sản xuất từ sữa hoàn nguyên có tiềm năng sản xuất tại các khu vực có nguồn sữa tươi hạn chế như Việt Nam.
Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến hàm lượng polyphenol, flavonoid, khả năng kháng oxy hóa và đánh giá khả năng bảo quản của bột đế nấm đông trùng hạ thảo
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ sấy và thời gian bảo quản đến hàm lượng polyphenol tổng số (TPC), flavonoid tổng số (TFC) và hoạt tính chống oxy hóa (TEAC) của bột đế nấm đông trùng hạ thảo. Nguyên liệu được sấy ba mức nhiệt 50ºC, 60ºC và 65ºC, bột đế nấm được theo dõi trong 8 tuần để đánh giá sự biến đổi về TPC, TFC, TEAC, độ ẩm, hoạt độ nước (aw) và màu sắc (L*, a*, b*). Kết quả cho thấy nhiệt độ sấy ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng bột. Ở 60ºC, TPC (2,25±0,14 mg GAE/g CKNL), TFC (22,91±0,08 mg QE/100 g CKNL) và TEAC (31,33 µmol TE/g CKNL) đạt giá trị cao nhất. Trong thời gian bảo quản, TPC, TFC và TEAC giảm dần, trong khi độ ẩm và aw tăng. Màu sắc thay đổi theo hướng giảm độ sáng và tăng sắc đỏ, vàng – phản ánh tác động của quá trình oxy hóa.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến động học và đặc tính lý hóa của bột rau má (Centella asiatica (L.) Urb.) sấy chân không
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mô hình động học và sự biến đổi chất lượng bột rau má sấy chân không (96±0,5 kPa) ở 40, 45 và 50°C. Kết quả cho thấy nhiệt độ tăng thúc đẩy tốc độ quá trình sấy. Mô hình Lewis được xác định là phù hợp để mô tả động học sấy chân không rau má, đặc biệt tại 45°C, với giá trị R², χ² và RMSE lần lượt là 0,9978; 0,0002 và 0,0141. Tại 45°C, hệ số khuếch tán ẩm (Deff) đạt 7,72×10-12 m².s⁻¹ và năng lượng hoạt hóa (Ea) là 40,89 kJ.mol⁻¹. Bên cạnh đó, bột rau má sấy chân không ở 45°C duy trì tốt về chất lượng với màu sắc ổn định (L* = 62,91±0,38; a* = -6,19±0,17; b* = 27,05±0,80), độ hoạt động của nước ở cuối quá trình sấy (aw) là 0,457±0,02. Hàm lượng hợp chất chống oxy hóa, khả năng trung hòa gốc tự do cao (TPC = 67,33±0,69 mg GAE/g, TFC = 36,86±0,87 mg QE/g, DPPH = 8,86±0,21 mg TE/g). Ngoài ra, kết quả cũng ghi nhận sự tương quan cao giá trị L*, a*, b*, TPC, TFC, DPPH và aw (r = -0,8179; 0,9505; 0,9824; 0,7631; 0,5698 và 0,5919; tương ứng).
Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột nấm rơm và tỷ lệ nấm men đến các đặc tính vật lý và cảm quan của bánh mì sandwich
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các thông số phù hợp, cụ thể là tỷ lệ bổ sung bột nấm rơm và nấm men, trong quy trình sản xuất bánh mì sandwich nấm rơm. Mục tiêu chính là tìm ra các tỷ lệ bột nấm rơm và nấm men phù hợp để tạo ra sản phẩm có chất lượng vật lý (như độ nở, độ cứng, độ ẩm, màu sắc) và chất lượng cảm quan (màu, mùi vị, cấu trúc) được cải thiện đáng kể, đáp ứng mong đợi của người tiêu dùng và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột nấm rơm bổ sung (1,2; 1,4; 1,6 và 1,8%) và tỷ lệ men bổ sung (1,4; 1,6 và 1,8%) cho thấy sự kết hợp của 1,4% bột nấm rơm và 1,6% men mang lại chất lượng sản phẩm tốt. Điều này được thể hiện qua độ nở phù hợp, độ cứng của bánh, độ ẩm, cùng các chỉ số màu sắc và chất lượng cảm quan được cải thiện đáng kể. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để chuẩn hóa quy trình sản xuất bánh mì sandwich nấm rơm với các đặc tính vật lý và cảm quan được nâng cao.
Ảnh hưởng của chất mang và tỷ lệ chủng đến khả năng sống và hoạt tính protease của Bacillus spp. trong chế phẩm vi sinh
Tóm tắt
|
PDF
Phế phụ phẩm từ các cơ sở giết mổ gia cầm ở đồng bằng sông Cửu Long chứa khoảng 15 - 25% protein. Nhiều phương pháp xử lý đã được nghiên cứu để tái sử dụng nguồn protein này trong đó có việc sử dụng vi khuẩn sinh protease. Trong nghiên cứu này, khả năng sống sót và hoạt tính protease của hỗn hợp vi sinh gồm ba chủng Bacillus (B. subtilis, B. flexus, B. stratosphericus) trong các công thức chất mang khác nhau, tỷ lệ vi sinh khác nhau đã được khảo sát. Kết quả cho thấy tỷ lệ 1:1:1 của hỗn hợp vi khuẩn trong chất mang chứa cám gạo 95% và mật đường 5% giúp khả năng sống sót của vi khuẩn và hoạt tính protease được sinh ra cao nhất. Sau 2, 4, 6 tháng bảo quản, từ mật số ban đầu 6,96×109 giảm còn lần lượt là 5,08×109, 3,73×109 và 1,11×109 (CFU/g); hoạt tính protease từ 204,1 UI/g giảm lần lượt còn 187,8; 130,6 và 70,2 (UI/g). Chế phẩm bảo quản sau 2, 4, 6 tháng có khả năng phân giải 53,7%, 47,7% và 39,5% protein tổng số trong phụ phẩm thủy sản.
Ảnh hưởng của quá trình chần và nhiệt độ tồn trữ đông đến đặc tính chất lượng của thịt đầu tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình chần đến sự thay đổi chất lượng hóa lý và vi sinh vật của thịt đầu tôm thẻ chân trắng trong suốt 8 tuần bảo quản đông lạnh ở hai mức nhiệt độ −10±2°C và −18±2°C. Nguyên liệu được xử lý chần ở 90±2°C trong 20 phút trước khi bảo quản. Kết quả cho thấy, việc xử lý chần giúp duy trì hàm lượng protein trên 80% (tính theo căn bản khô), hạn chế suy giảm lipid, giảm tốc độ gia tăng hàm lượng amoniac (NH₃) và pH, so với mẫu không chần. Mức độ biến đổi chất lượng diễn ra rõ rệt hơn ở điều kiện −10±2°C so với −18±2°C. Ngoài ra mật số vi sinh vật hiếu khí sau bảo quản 8 tuần không vượt quá giới hạn vi sinh cho phép theo TCVN 12614:2019 ở cả hai mức nhiệt độ. Nhìn chung, chần là bước xử lý nhiệt đơn giản nhưng hiệu quả, góp phần ức chế enzyme nội sinh, cải thiện ổn định hóa học và vi sinh, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản nguyên liệu dễ hư hỏng như thịt đầu tôm thẻ chân trắng.
Tác động của quá trình chần đến hiệu quả lên men và chất lượng thịt nhãn Idor (Dimocarpus longan Lour.) lên men lactic sấy thăng hoa
Tóm tắt
|
PDF
Thịt nhãn Idor là nguồn nguyên liệu giàu carbohydrate và hợp chất sinh học, tiềm năng ứng dụng làm prebiotic. Tuy nhiên, cấu trúc mô đặc trưng có thể cản trở sự phát triển của vi khuẩn lactic. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình chần đến hiệu quả lên men lactic, chất lượng và khả năng sống sót của vi khuẩn lactic trong thịt cơm nhãn Idor sau lên men và sấy thăng hoa. Nguyên liệu chần ở 50, 60, 70 và 80°C trong thời gian 5 - 20 phút (bước nhảy 5 phút), chủng vi khuẩn Bifidobacterium animalis subsp. lactis BB‑12 làm chủng khởi đầu. Chỉ tiêu đánh giá gồm pH, acid lactic, đường khử sau lên men, độ ẩm, độ hoạt động của nước (aw), độ giòn và mật số vi khuẩn sau sấy. Kết quả cho thấy chần ở 60°C trong 10 phút thích hợp cho lên men thịt nhãn và ổn định chất lượng với pH ở mức 3,96±0,02; acid lactic 0,259±0,014%; đường khử 2,84%; độ ẩm 4,67±0,47%; aw 0,47±0,01; độ giòn 2.407,66±82,56 gf, mật số vi khuẩn lactic 8,53 log CFU/g. Kết quả nghiên cứu giúp khẳng định vai trò của tiền xử lý chần trong cải thiện môi trường nền, nâng cao hiệu quả lên men và tính ổn định của sản phẩm probiotic từ nhãn.
Ảnh hưởng của việc thay thế muối NaCl bằng KCl đến chất lượng và đặc tính protein của khô cá lóc
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của việc thay thế NaCl bằng KCl ở các tỷ lệ NaCl: KCl khác nhau (100:0, 70:30, 50:50, 30:70, 10:90 và 0:100%) đến chất lượng (màu sắc, đặc tính cấu trúc, cảm quan) và đặc tính protein của khô cá lóc như điện di protein (SDS-PAGE), hoạt tính enzyme protease (U/mg protein) và lipoxygenase (mg MDA/g protein). Kết quả SDS-PAGE cho thấy cường độ dải myosin (200 kDa) giảm rõ rệt khi tăng tỷ lệ KCl, đặc biệt dải này gần như biến mất ở mẫu 100% KCl. Hoạt tính enzyme lipoxygenase có xu hướng giảm trong các mẫu có KCl, điều này cho thấy khả năng kiểm soát quá trình oxy hóa lipid tốt hơn. Ngược lại, hoạt tính protease tăng lên. Về cảm quan, khô cá lóc ở tỷ lệ muối 50% NaCl: 50% KCl cho thấy sự chấp nhận cao về màu sắc (L* giảm, a* tăng) mà không ảnh hưởng đáng kể đến mùi, vị hay cấu trúc. Kết quả nghiên cứu này giúp cung cấp thông tin hữu ích cho việc phát triển sản phẩm khô cá lóc giảm natri, có lợi hơn cho sức khỏe người tiêu dùng.
Phát triển sản phẩm chả cá rô phi đen: Tác động của các phụ gia muối, đường và tinh bột lên đặc tính lý hóa và cảm quan
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nồng độ muối, đường và tinh bột đến tính chất lý hóa và cảm quan của chả cá rô phi đen. Kết quả cho thấy muối 1,0% cho độ bền gel cao nhất và cải thiện cảm quan, trong khi nồng độ 1,5% làm giảm pH (6,36) và độ sáng (L* = 59,23). Đường 1,4% giúp tăng độ bền gel (2550 g/cm²), độ sáng và độ trắng. Tinh bột 4% cho độ bền gel cao nhất (2640 g/cm²), cải thiện cảm quan về cấu trúc và màu sắc, trong khi pH ít thay đổi (6,34 – 6,39). Kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy muối tương quan dương mạnh với cảm quan vị (r = 0,94) và âm với pH (r = –0,76). Đường tương quan dương với L* (r = 0,51) và độ trắng (r = 0,44). Tinh bột có tương quan âm với pH (r = –0,71). Công thức gồm 1,0% muối, 1,4% đường và 4% tinh bột được khuyến nghị cho sản xuất chả cá rô phi đen có chất lượng cao, đáp ứng tốt yêu cầu về cấu trúc, màu sắc và cảm quan.
Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trên chó và hiệu quả tẩy trừ giun tròn bằng hạt bí ngô (Cucurbita pepo) tại Long Hồ và Tam Bình
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu thực hiện trên 334 mẫu phân chó và trứng giun tròn được xác định bằng phương pháp đếm trứng giun trên buồng đếm Mc Master. Bố trí ngẫu nhiên 3 nghiệm thức (NT): NT1(đối chứng) không tẩy trừ, NT2 (1 gBN/1 kg chó), NT3 (1,5 gBN/1 kg chó). Kết quả thu được có 281 mẫu nhiễm giun tròn, tương ứng 81,13% ở cả 3 cường độ nhiễm, cường độ (+) chiếm nhiều nhất. Chó 0,05). Chó thả rông có tỷ lệ nhiễm cao hơn nuôi nhốt (93,93% > 66,67%), tỷ lệ nhiễm ở chó giống nội cao hơn ở chó giống ngoại (91,45% > 67,00%), cả hai yếu tố đều ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm (P < 0,05). Hiệu quả tẩy trừ giun tròn bằng bột hạt bí ngô cao nhất ở NT3 (80,00%), NT2 (60,00%) và NT1 đối chứng (0,00%).
Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy và loại bao bì đến một số tính chất hóa lý của bột chuối Già Hương (Musa sapientum L.)
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ sấy, độ ẩm và loại bao bì đến một số tính chất hóa lý của bột chuối già hương (Musa sapientum L.). Nghiên cứu được bố trí với bốn mức nhiệt độ sấy (45 °C, 50ºC, 55ºC và 60ºC) để xác định giá trị phù hợp, sau đó sản phẩm được sấy đến các mức độ ẩm mục tiêu là 6%, 8%, 10% và 12% để đánh giá chất lượng. Ba loại bao bì (PE, PA và PA/Al) được sử dụng để đánh giá khả năng bảo quản bột chuối trong thời gian 4 tuần. Kết quả cho thấy nhiệt độ sấy ở 55ºC giúp sản phẩm đạt độ sáng cao, độ hòa tan tốt và giá trị độ hoạt động nước (aw) thấp. Khi chuối được sấy đến độ ẩm 8%, bột thu được có màu sắc ổn định, với giá trị L* đạt 72,38; giá trị b* đạt 14,04; độ hòa tan đạt 3,847% và độ hoạt động của nước là 0,537, giá trị đủ thấp có thể hạn chế sự phát triển của vi sinh vật. Trong đó, bao bì PA/Al cho hiệu quả bảo quản tốt hơn so với PA và PE, giúp duy trì độ ẩm và màu sắc ổn định.
Ảnh hưởng của rượu khóm (Ananas comosus) đến sinh trưởng và phòng bệnh hệ tiêu hoá trên heo Yorkshire cai sữa
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu được tiến hành nhằm khảo sát ảnh hưởng của rượu khóm đến sinh trưởng và phòng bệnh đường tiêu hóa heo cai sữa. Thí nghiệm được thực hiện trên 48 heo Yorkshire 30 ngày tuổi bằng cách pha rượu khóm vào nước uống vào ngày thứ 3 và thứ 6 hàng tuần với 4 nghiệm thức: nghiệm thức 1 (ĐC): KPCS + 0% RK; nghiệm thức 2: KPCS + 0,5% RK; nghiệm thức 3: KPCS+ 0,6% RK; nghiệm thức 4: KPCS + 0,7% RK. Kết thúc thí nghiệm, khối lượng (31,59 kg/heo) và tăng trọng heo (21,49 kg/heo) cao nhất ở NT4 (0,7% RK); kế là NT3 (0,6% RK) với khối lượng (30,73 kg/heo), tăng trọng (20,72 kg/con); NT2 (0,5% RK) khối lượng (29,55 kg/heo), tăng trọng(19,57 kg/con) cao hơn hẳn NT1 (0,0% RK) khối lượng (28,58 kg/heo), tăng trọng (18,51 kg/con) (p < 0,05). Hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) ở NT4 (1,19) được cải thiện tốt hơn hẳn HSCHTA ở NT1 (ĐC) (1,37) (p < 0,05). Tiêu tốn thức ăn không khác biệt giữa các NT (p > 0,05). Heo NT1 (ĐC) có tỷ lệ bệnh đường tiêu hóa cao nhất (66,67%) cao hơn hẳn heo ở NT4 (0,7% RK) (0,00%); NT3 (0,6% RK) (16,67%) và NT2 (0,5% RK) (16,67%) (p < 0,05). Rượu khóm ảnh hưởng tốt đến tỷ lệ sống của heo.
Tuyển chọn vi khuẩn lactic có khả năng sinh γ-aminobutyric acid (GABA) từ kim chi và dưa cải muối chua
Tóm tắt
|
PDF
Gamma-aminobutyric acid (GABA) là một acid amin có vai trò như chất dẫn truyền thần kinh ức chế và mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nghiên cứu này nhằm phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn lactic (LAB) sinh GABA từ kim chi và dưa cải thu thập tại Cần Thơ và Vĩnh Long. Trong nghiên cứu, 26 dòng vi khuẩn LAB trên môi trường MRS đã được phân lập. Quá trình sàng lọc theo các tiêu chí sinh acid lactic, tiềm năng probiotic và tạo GABA đã xác định năm dòng LAB: KC5, KC9, DC4, DC9 và DC11. Cả năm dòng đều cho khả năng sinh acid lactic cao và ổn định sau 48 giờ lên men, trong đó dòng KC5 đạt hàm lượng cao nhất là 26,93 g/L. Đặc biệt, dòng KC5 còn thể hiện khả năng sinh GABA vượt trội, đạt 2,146 mg/mL sau 72 giờ lên men trong môi trường MRS lỏng có bổ sung 0,25% MSG ở 37℃. Phân tích trình tự 16S rRNA xác định dòng KC5 thuộc loài Limosilactobacillus fermentum (PX136141.1), với tiềm năng ứng dụng cao trong phát triển thực phẩm chức năng lên men giàu GABA.
Ảnh hưởng của tỷ lệ β-cyclodextrin và điều kiện sấy phun đến tính chất hóa lý và cảm quan của bột bưởi (Citrus grandis (L.) Osbeck) lông Cổ Cò
Tóm tắt
|
PDF
Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ chất trợ sấy β-cyclodextrin (βCD) (2, 4, 6%) kết hợp với 10% hỗn hợp maltodextrin/gum Arabic (85%/15%) và điều kiện sấy gồm nhiệt độ đầu vào (160, 170, 1800C) và tốc độ bơm 378, 555, 750 mL/giờ đến tính chất cảm quan và hóa lý (độ ẩm, hoạt độ nước - aw, thời gian hòa tan, màu sắc, vitamin C, polyphenol – TPC, flavonoid – TFC) của bột bưởi. Kết quả cho thấy, với tỷ lệ 4% (w/v) βCD đem lại hiệu quả sấy tốt nhất với hiệu suất thu hồi, hàm lượng TPC, vitamin C, TFC và điểm cảm quan cao nhất. Bên cạnh đó, bột được sấy ở nhiệt độ 160◦C và tốc độ bơm 750 mL/giờ mặc dù cho hiệu suất thu hồi thấp (51,82%) tuy nhiên khả năng lưu giữ các thành phần TPC, vitamin C và TFC là cao hơn lần lượt là 2,87 mgGAE/g CK, 204,36 mg/100g CK và 6,04 mgQE/g CK). Sản phẩm bột bưởi có độ ẩm và hoạt độ nước lần lượt là 8,69% và 0,45 thích hợp trong bảo quản và vận chuyển. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao giá trị sử dụng và kinh tế của quả bưởi lông Cổ Cò tại địa phương.
Đặc điểm hóa lý, vi sinh của nem chua Đồng Tháp và phân lập vi khuẩn lactic có khả năng sinh acid γ-aminobutyric
Tóm tắt
|
PDF
Nem chua là sản phẩm lên men từ thịt nhờ vào hoạt động của vi khuẩn lactic. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các đặc điểm hóa lý và vi sinh cơ bản của sản phẩm nem chua Đồng Tháp đồng thời phân lập và xác định đặc điểm của vi khuẩn lactic có khả năng sinh acid γ-aminobutyric (GABA). Các mẫu nem chua được thu thập tại 3 cơ sở (ký hiệu HH, HK, CH) để xác định các đặc điểm hóa lý và làm nguồn phân lập vi khuẩn lactic. Kết quả cho thấy các mẫu nem có hàm lượng acid tổng dao động trong khoảng 15,75 - 27,00 g/kg, hàm lượng nitơ formol 0,63 - 1,34 g/kg và hàm lượng GABA ở mức 1,49 - 2,82 mg/g. Tổng số vi sinh vật hiếu khí được xác định trong khoảng 2,0x105 - 5,9x105 CFU/g và vi khuẩn lactic là 2,1x106 - 5,7x106 CFU/g. Trong đó, 22 chủng vi khuẩn có khả năng phát triển trên môi trường MRS với đặc điểm điển hình của vi khuẩn lactic đã được sơ tuyển. Dựa vào khả năng sinh GABA, 6 chủng vi khuẩn lactic tiềm năng với hàm lượng GABA ở mức 2,93 - 3,26 mg/g đã được tuyển chọn.
Khảo sát tỷ lệ lây nhiễm của Campylobacter jejuni và Campylobacter coli qua các tình huống mô phỏng khi xử lý thịt gà và gan gà tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá rủi ro lây nhiễm Campylobacter jejuni và C. coli từ thịt gà và gan gà sống sang các bề mặt, dụng cụ chế biến và thực phẩm trong những tình huống mô phỏng. Kết quả cho thấy thớt bằng gỗ thể hiện mức nhiễm cao hơn so với thớt bằng nhựa, với tỷ lệ lây nhiễm từ gan đạt 25,86% (C. jejuni) và 23,46% (C. coli), trong khi trên thớt nhựa chỉ lần lượt 1,90% và 1,40%. Sự lây nhiễm này tiếp tục lan sang thực phẩm khi thực hiện mô phỏng tiếp xúc trực tiếp (dưa leo) đặt trên thớt gỗ chưa được vệ sinh ghi nhận tỷ lệ nhiễm 12,83% (C. jejuni). Việc chỉ rửa tay với nước không thể loại bỏ vi khuẩn, trong khi việc sử dụng xà phòng giúp làm giảm mật số vi khuẩn đáng kể (
Định danh và khả năng tiết enzyme đối kháng của Bacillus amyloliquefaciens ba5att với phytophthora palmivora gây bệnh vàng lá, thối rễ sầu riêng tại xã Long Kiến, tỉnh An Giang
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tuyển chọn dòng Bacillus sp. đối kháng Phytophthora palmivora gây vàng lá, thối rễ sầu riêng, đồng thời xác định đặc điểm hình thái và sinh hóa và PCR - giải trình tự để ứng dụng phòng trừ bệnh. Từ 12 mẫu đất vùng rễ sầu riêng đại diện ở xã Long Kiến, tỉnh An Giang, năm dòng vi khuẩn (BA2LK, BA5LK, BA6LK, BA2ATT và BA5ATT) đã được phân lập, các dòng này đều có đặc điểm hình thái và sinh học phù hợp với chi Bacillus. Kết quả đối kháng ở in vitro cho thấy cả 5 dòng đều có khả năng năng ức chế sự phát triển sợi nấm của P. palmivora từ 2 đến 8 ngày sau đối kháng. Dòng vi khuẩn BA5ATT được định danh là loài Bacillus amyloliquefaciens, có hiệu suất đối kháng cao nhất (27,2-47,5%) và duy trì tốt khả năng tiết enzyme cellulase (30,6-55,02 mm) và β-glucanase (36,6-59,74 mm) mạnh từ 3 đến 9 ngày sau cấy. Đây là tác nhân sinh học tiềm năng trong kiểm soát bệnh hại sầu riêng.
Phân bón vi sinh từ vi khuẩn - giải pháp giảm phụ thuộc và tăng hiệu quả sử dụng phân hoá học trong canh tác bền vững
Tóm tắt
|
PDF
Phân hóa học vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong canh tác nông nghiệp ở Việt Nam do hiệu quả nhanh, dễ sử dụng và phổ biến rộng rãi; nhưng việc sử dụng phân bón hóa học kéo dài đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khoẻ đất, môi trường, con người và hệ sinh thái. Phân bón vi sinh chứa các dòng vi sinh vật có lợi như vi khuẩn có khả năng cố định đạm, phân giải lân và kali, sản xuất chất kích thích tăng trưởng thực vật và chống stress cho cây trồng được xem là giải pháp thay thế bền vững, giúp giảm lượng phân hóa học, tăng hiệu quả sử dụng phân bón, cải thiện khả năng hấp thu dưỡng chất, cấu trúc đất và tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề phải đối mặt để phân bón vi sinh có thể được ứng dụng rộng rãi trong canh tác nông nghiệp hiện nay. Do đó, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tổng hợp một số kết quả ứng dụng vi khuẩn có lợi và thách thức sử dụng phân bón vi sinh trong canh tác nông nghiệp theo hướng an toàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.