Ngày xuất bản: 23-04-2026

Nghiên cứu đánh giá công suất và phát thải của động cơ Diesel D229-4 sử dụng nhiên liệu Diesel, Biodiesel B40 và Dimethyl Ether (DME) bằng phần mềm Diesel-RK

Trần Văn Định, Nguyễn Hoài Tân
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm mô phỏng, đánh giá hiệu suất và phát thải của động cơ Diesel D229-4 khi sử dụng ba loại nhiên liệu gồm: Diesel truyền thống (DO), Biodiesel B40 (40% methyl ester từ dầu thực vật/ mỡ động vật và 60% DO) và Dimethyl Ether (DME – hợp chất tổng hợp từ khí tự nhiên, sinh khối) bằng phần mềm Diesel-RK (2023). Kết quả mô phỏng tại vòng tua định mức thì nhiên liệu Biodiesel B40 và DME có ưu điểm hơn so với nhiên liệu DO truyền thống. Tổng mức phát thải  của nhiên liệu B40 và DME so với nhiên liệu Diesel truyền thống giảm mạnh lần lượt là 12,29% và 38,13%. Về hiệu suất, công suất giảm khoảng 3,2% với B40 và 0,5% với DME. Tương tự, mô men xoắn cũng giảm lần lượt là 3,32% và 0,14%. Tuy nhiên, diễn biến nồng độ muội than của DME cao hơn DO, trong khi B40 giảm rõ rệt. Với nhiều ưu điểm về hiệu suất và sự giảm phát thải, B40 và DME có thể được xem như là nhiên liệu thay thế tiềm năng cho động cơ Diesel trong tương lai.

Ứng dụng eCognition phân loại thảm phủ rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh

Nguyễn Thị Hà
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trình bày ứng dụng phần mềm eCognition để phân loại thảm phủ rừng phòng hộ tại Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh bằng ảnh vệ tinh Sentinel-2A. Phương pháp phân loại thảm phủ sử dụng các công cụ “Assign Class”, “Classification” trong phần mềm eCognition kết hợp dữ liệu điều kiện ngoại nghiệp từ 80 mẫu khóa ảnh, các ô tiêu chuẩn và phân loại theo phương pháp huấn luyện theo ngưỡng logic không cần huấn luyện (Rule Set) đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy tại khu vực được phân loại thành 8 lớp phủ, trong đó có 5 trạng thái rừng với tổng diện tích có rừng là 25.156,53 ha (chiếm 89,33%) bao gồm: rừng thường xanh trung bình, thường xanh nghèo, thường xanh kiệt, thường xanh phục hồi và rừng trồng với độ chính xác phân loại đạt 82,5% và hệ số Kappa là 0,8. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng công cụ “Classification” trong phân loại đối tượng rừng có độ chính xác và hiệu quả cao hơn so với phân loại dựa trên ngưỡng giá trị của các chỉ số phổ (Rule Set).

Ảnh hưởng của điều kiện tiền xử lý đến hiệu suất thu nhận và chất lượng dầu bơ 034 (Persea Americana)

Trần Hoàng Ái, Võ Kim Huyền, Đặng Xuân Đào, Lê Hoàng Nam, Trương Phạm Thảo Ngọc, Đặng Huỳnh Giao
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm xác định các điều kiện xử lý phù hợp giúp nâng cao hiệu suất ép và chất lượng dầu từ giống bơ 034 bằng phương pháp ép trục vít, một giải pháp tiềm năng để gia tăng giá trị kinh tế cho loại quả này. Các yếu tố được khảo sát bao gồm: nhiệt độ sấy, công suất vi sóng và nhiệt độ ép. Kết quả cho thấy cả ba yếu tố đều có ảnh hưởng đến hiệu suất chiết xuất chất béo cũng như các chỉ tiêu chất lượng như chỉ số acid và peroxide. Điều kiện tiền xử lý tối ưu được xác định trong nghiên cứu này bao gồm: nhiệt độ sấy 60°C, xử lý vi sóng 400 W trong 2 phút và ép ở nhiệt độ 50°C. Bên cạnh đó, phân tích thành phần khối lượng của quả bơ 034 cho thấy phần thịt quả chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 77,1% khối lượng quả – cao hơn đáng kể so với nhiều giống bơ khác. Về thành phần dinh dưỡng (tính theo cơ sở khô), phần thịt chứa 57,5% chất béo, 32,9% carbohydrate, 7,9% protein và 1,7% tro; trong khi độ ẩm chiếm khoảng 79,3% khối lượng phần thịt tươi. Kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc áp dụng công nghệ xử lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dầu thực vật nói chung và dầu bơ nói riêng.

Tối ưu hóa bộ điều khiển LQR bằng giải thuật di truyền cho con quay hồi chuyển ba bậc tự do

Lương Hoài Thương, Lê Minh Thành, Phạm Thanh Tùng, Nguyễn Chí Ngôn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này tập trung vào việc thiết kế và thử nghiệm trên mô phỏng bộ điều khiển tối ưu cho con quay hồi chuyển của Quanser. Mục tiêu là đảm bảo khả năng bám quỹ đạo chính xác của hệ thống, việc điều khiển hiệu quả con quay hồi chuyển là một khó khăn lớn, đặc biệt khi sử dụng bộ điều khiển LQR. Hiệu suất LQR phụ thuộc vào việc lựa chọn thủ công các ma trận trọng số Q và R, vốn phức tạp và khó tối ưu khi tham số hệ thống thay đổi. Để khắc phục, nghiên cứu đề xuất phương pháp tối ưu hóa LQR bằng giải thuật di truyền. GA sẽ tự động tìm kiếm các giá trị tối ưu cho Q và R dựa trên tiêu chuẩn tích phân trị tuyệt đối sai số (IAE), nhằm đạt được hiệu suất bám quỹ đạo tốt nhất và tăng cường độ ổn định hệ thống vòng kín. Kết quả mô phỏng ban đầu với GA-LQR cho thấy hiệu suất cải thiện đáng kể: hệ thống đạt thời gian xác lập nhanh chóng là 0.1s và không có độ vọt lố. Điều này chứng tỏ GA-LQR mang lại tính ổn định cao và đáp ứng nhanh trong điều khiển con quay hồi chuyển của Quanser, trong môi trường mô phỏng.

Điều khiển robot di động theo quỹ đạo có xét đến các yếu tố nhiễu từ bên ngoài

Trần Phước Lộc, Lưu Trọng Hiếu, Ngô Quang Hiếu
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này giới thiệu phương pháp điều khiển bám quỹ đạo cho robot di động phi holonomic dưới tác động của nhiễu loạn bên ngoài. Bộ điều khiển trượt động lực (DSMC) kết hợp với kỹ thuật backstepping được đề xuất nhằm nâng cao độ chính xác và khả năng chống nhiễu. Mô hình động lực học của robot được xây dựng bằng phương trình Lagrange, có xét đến quán tính, lực ly tâm, Coriolis và nhiễu. Bộ điều khiển trượt kiểu PI đảm bảo ổn định, còn backstepping giúp cải thiện độ chính xác và hàm bão hòa được dùng để giảm hiện tượng rung. Mô phỏng trong MATLAB/Simulink được thực hiện với các quỹ đạo tròn, elip và hình chữ nhật trong hai điều kiện: không nhiễu và có nhiễu. Kết quả cho thấy bộ điều khiển bám quỹ đạo hiệu quả, hội tụ nhanh và thích nghi tốt, cho thấy tiềm năng ứng dụng thực tế.

Trắc lượng hấp thụ carbon dioxide (CO2) của tre Tầm Vông tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Lê Anh Tuấn, Huỳnh Thị Thảo Anh
Tóm tắt | PDF
Tre là loài thực vật phổ biến ở Việt Nam vì đặc điểm dễ trồng, ít chăm sóc, đa dụng và có khả năng giữ đất, phòng chống thiên tai. Tre Tầm Vông là giống tre phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, được xem là loài cây có nhiều tiềm năng hấp thụ khí Carbon dioxide (CO2), giúp giảm thiểu hiện tượng nóng lên toàn cầu và tác động của biến đổi khí hậu. Cách trắc lượng sinh khối tươi và khô của tất cả bộ phận cây tre tầm vông được áp dụng để tính lượng carbon tích lũy từ các rừng trồng tre Tầm Vông ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Kết quả đo đạc và tính toán cho thấy cây tre Tầm Vông có khả năng hấp thụ 9.844 tấn CO2/ha và 19.279 tấn CO2/ha lần lượt cho vườn tre 1 năm tuổi và 2 năm tuổi. Điều này cho thấy, ngoài lợi ích kinh tế và xã hội, cây tre Tầm Vông có thể mở rộng diện tích, góp phần thiết lập tín chỉ carbon cho các địa phương.

Nghiên cứu than sinh học của cây sậy (Phragmites australis Cav.) làm nguyên liệu phân hữu cơ tại các điểm tiêu biểu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Thái Thành Lượm, Đặng Thị Hồng Ngọc, Ngô Văn Thiện
Tóm tắt | PDF
Than sinh học (TSH) là vật liệu mới cho nông nghiệp và môi trường. Sậy (Phragmites australis Cav.) có sinh khối cao; khai thác giúp giảm vật liệu cháy tại U Minh Thượng và Kiên Lương, đồng thời cung cấp nguyên liệu tạo TSH. Sinh khối sậy được khảo sát tại 3 vùng, mỗi vùng 9 ô tiêu chuẩn (9 lần lặp). Các chỉ tiêu sinh trưởng gồm chiều cao, kích thước thân, khối lượng tươi và khô được ghi nhận. TSH từ sậy được sản xuất và đề xuất làm nguyên liệu phân bón hữu cơ. Phân tích hóa học theo tiêu chuẩn Việt Nam nhằm đánh giá sinh khối và khả năng sử dụng TSH. Sinh khối tươi, khô và TSH được xác định phục vụ bón lúa. Thành phần hóa học của thân, lá, hoa được phân tích; khả năng hấp phụ của TSH đối với nước tiểu heo và dinh dưỡng (N, P, K) được đánh giá. Hỗn hợp TSH sậy, than bùn và phân khoáng (N, P, K) được đề xuất áp dụng cho cây lúa, góp phần cải thiện môi trường và phát triển nông nghiệp.

Bào chế hệ vi hạt PLGA chứa cao chiết nắp ấm hoa đôi (Nepenthes mirabilis) và đánh giá khả năng chống stress oxy hóa

Tạ Thanh Hồng, Võ Thành Khang, Nguyễn Thị Kiều Mỵ, Nguyễn Quốc Châu Thanh
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, hệ vi hạt PLGA chứa cao chiết từ nắp ấm hoa đôi (Nepenthes mirabilis) (NM/PLGA-NPs) đã được phát triển thành công, với hiệu suất nạp 12,37%, tải 70,73% và kích thước trung bình 926 nm. Kết quả phân tích FT-IR và SEM cho thấy quá trình nạp không làm thay đổi cấu trúc chức năng và duy trì hình thái hình cầu, đồng đều. Hệ vi hạt thể hiện khả năng giải phóng hoạt chất phụ thuộc pH: giải phóng nhanh tại pH 1,2, chậm và ổn định ở pH 6,8 và 7,4, phù hợp với các dạng bào chế theo đường uống. Ngoài ra, hệ NM/PLGA-NPs có khả năng trung hòa gốc tự do DPPH bền vững trong 72 giờ, điều này cho thấy hiệu quả kháng oxy hóa kéo dài. Việc đánh giá độc tính trên tế bào RAW264.7 cho thấy hệ vi hạt an toàn, không gây độc và có khả năng bảo vệ tế bào khỏi tổn thương stress oxy hóa do H2O2. Những kết quả này khẳng định tiềm năng của hệ vi hạt NM/PLGA-NPs trong ứng dụng điều trị các bệnh lý liên quan đến stress oxy hóa.

Phân lập vi khuẩn có khả năng phân giải lipid trong nước thải chế biến tôm và cá da trơn

Phạm Như Huỳnh, Võ Phát Tài, Nguyễn Thị Phi Oanh
Tóm tắt | PDF
Chế biến thủy sản là ngành công nghiệp góp phần đảm bảo nguồn thực phẩm cho địa phương, trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, nước thải chế biến thuỷ sản chứa nhiều chất hữu cơ, trong đó có lipid, cần được xử lý đúng cách để không gây ô nhiễm môi trường. Từ các mẫu nước thải chế biến tôm và cá da trơn, 19 dòng vi khuẩn có khả năng phân giải lipid đã được phân lập, trong đó, 4 dòng LF2, LF4, LS3 và LS4 có hoạt tính lipase cao nhất ở thời điểm 48 giờ nuôi cấy trong môi trường khoáng tối thiểu có bổ sung 1% dầu hướng dương. Dòng vi khuẩn LS4 có hoạt tính lipase cao nhất trong môi trường pH trung tính, đạt 47,19 U/mL. Kết quả so sánh  trình tự gen 16S-rRNA và đặc điểm sinh hóa chứng tỏ dòng vi khuẩn LS4 thuộc loài Aeromonas hydrophila nên được định danh là Aeromonas hydrophila LS4.

Ảnh hưởng của phương pháp tiền xử lý khác nhau đến chất lượng nhãn Idor sấy khô nguyên vỏ

Quách Thị Huỳnh Như, Phan Minh Trọng, Trần Thanh Trúc, Nguyễn Văn Mười
Tóm tắt | PDF
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá tác động của các phương pháp tiền xử lý khác nhau bao gồm xử lý mài mòn vỏ, chần, lạnh đông và ủ đến thời gian sấy, màu sắc, hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) và khả năng chống oxy hóa (TEAC) của nhãn sấy khô nguyên vỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc mài mòn vỏ với 10% cát trong 20 phút rút ngắn đáng kể thời gian sấy (< 50 giờ) và ổn định màu sắc của vỏ nhãn sấy khô. Quá trình chần ở 75°C trong 5 phút cho thấy hiệu quả cải thiện đáng kể về màu sắc thịt quả. Trong khi đó, việc lạnh đông ở -10°C mang lại hiệu quả nhất định, tuy nhiên tỷ lệ nứt vỏ quả ghi nhận ở mức cao (> 95%). Việc xử lý ủ nóng ở nhiệt độ 60°C - RH72% trong 6 giờ giúp ổn định hơn giá trị TPC (8,19±0,66 mg GAE/g CKNL) và TEAC (38,92±1,19 mmol TE/g CKNL). Kết quả nghiên cứu này giúp cung cấp những đánh giá bước đầu trong việc cải thiện chất lượng nhãn sấy khô nguyên vỏ thông qua các biện pháp tiền xử lý khác nhau.

Nghiên cứu hoạt tính sinh học của chiết xuất giàu chlorogenic acid từ nhân hạt cà phê xanh (Coffea canephora)

Nguyễn Thị Thùy Dương, Trịnh Thị Phi Ly
Tóm tắt | PDF
Polyphenol là nhóm hợp chất chống oxy hóa tiềm năng có mặt trong nhân hạt cà phê xanh, trong đó chlorogenic acid là polyphenol chiếm tỷ lệ cao nhất, là hoạt chất chính tạo nên giá trị sinh học đặc trưng của nhân hạt cà phê xanh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát các phương pháp chiết xuất polyphenol, chlorogenic acid từ nhân hạt cà phê xanh và đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết giàu chlorogenic acid thu được. Hai phương pháp được sử dụng là chiết xuất có sự hỗ trợ của sóng siêu âm và hỗ trợ enzyme. Kết quả cho thấy việc chiết xuất bằng enzyme Celluclast đạt hiệu quả polyphenol cao nhất với hàm lượng 66,88 mg gallic acid tương đương/g (GAE/g). Phương pháp sử dụng ethanol 70% có sự hỗ trợ của sóng siêu âm cho hiệu quả chiết xuất polyphenol tương đương nhưng hàm lượng chlorogenic acid cao hơn 1,3 lần so với phương pháp chiết bằng enzyme. Dịch chiết  ethanol 70% có khả năng bắt gốc tự do DPPH và ABTS, khả năng ức chế biến tính albumin cao hơn dịch chiết bằng enzyme. Dịch chiết giàu chlorogenic acid có tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.

Chế tạo nhũ tương nano dầu neem kết hợp nano silica bằng phương pháp điểm đảo pha và đánh giá hiệu quả kháng nấm Pyricularia oryzae

Phan Thị Kim Ngân, Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Đông Thức, Đặng Thị Như Quỳnh, Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, Ngô Hồng Loan, Lâm Hoàng Anh Thư, Hoàng Thùy Dương, Nguyễn Hữu Tuyển
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm mục đích tạo nhũ tương nano dầu neem bằng phương pháp điểm đảo pha, kết hợp với nano silica và xác định hiệu quả kháng nấm Pyricularia orizae. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hệ nhũ như tỷ lệ dầu neem và chất hoạt động bề mặt, tỷ lệ chất hoạt động bề mặt, tỷ lệ dầu neem, tỷ lệ nano silica và chọn được công thức tốt nhất đánh giá các chỉ tiêu hóa lý. Kết quả hệ nhũ tương tốt nhất với thành phần bao gồm 20% dầu neem, 20% Tween 80 và 60% nước cất, 0,5% nano silica. Kết quả kích thước hạt trung bình, chỉ số đa phân tán, độ nhớt, độ đục, pH của hệ nhũ lần lượt là 154,8 nm; 0,233; 21,5 cP; 51,18 cm-1; 6,2 và ổn định ở nhiệt độ phòng sau 2 tháng bảo quản. Kết quả nhũ tương cho thấy hoạt tính kháng nấm tốt và hiệu quả ức chế đạt 80%; 78,26%; 76,02% ở nồng độ 100 µL/mL sau 3,6,9 ngày. Nghiên cứu cho thấy nhũ tương có tiềm năng thay thế cho thuốc diệt nấm tổng hợp hóa học.

So sánh hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi dê bằng các phương pháp khác nhau

Nguyễn Thị Bạch Kim, Phạm Văn Trọng Tính, Lâm Phước Thành, Trần Thị Thúy Hằng
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 7 nghiệm thức (NT), 3 lần lặp lại. Các NT gồm: ủ truyền thống (TT), nuôi trùn Quế (VM) và 5 NT ủ compost (CP1-CP5) từ 100%, 75%, 50%, 25% và 0% chất thải bài tiết của dê (GE) lần lượt kết hợp với chất thải thực vật (FW) phát sinh khi cho dê ăn và lưu trữ ở kho. Khi xử lý 100% GE, VM và CP1 có hiệu quả tương đương và vượt trội so với TT. Phân bón hữu cơ từ VM và CP1 gần đạt tiêu chuẩn theo QCVN 01-189:2009/BNNPTNT, chỉ cần điều chỉnh độ ẩm và C/N. Trong các nghiệm thức ủ compost, CP1, CP2 (75% GE + 25% FW), và CP3 (50% GE + 50% FW) mang lại hiệu quả xử lý tương đương và cao hơn so với CP4 (25% GE +75% FW) và CP5 (100% FW). Khuyến nghị trại chăn nuôi dê chủ yếu phát sinh GE, CP1 và VM là lựa chọn tốt. Tuy nhiên, nếu cần xử lý GE cùng FW, nên áp dụng CP2 hoặc CP3 để quản lý chất thải đồng thời sản xuất phân bón hữu cơ.

Nhân nhanh in vitro cây công chúa hồng (Philodendron erubescens Pink Princess)

Nguyễn Văn Ây, Mai Vũ Duy, Trần Nguyễn Phương Lam, Lê Hoài Tuấn , Nguyễn Minh Nghĩa , Trần Nguyễn Phương Nguyên , Trần Ngọc Quý
Tóm tắt | PDF
Nhân nhanh in vitro cây công chúa hồng (Philodendron erubescens Pink Princess) được thực hiện nhằm xác định nồng độ chất điều hòa sinh trưởng phù hợp cho việc nhân giống loài cây này. Trong nghiên cứu, phương pháp nuôi cấy in vitro được sử dụng, với môi trường MS bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng như Kinetin, NAA và than hoạt tính. Ba thí nghiệm chính gồm: (1) tác động của Kinetin lên sự nhân chồi; (2) hiệu quả của NAA và than hoạt tính lên sự tạo rễ; (3) khả năng sống của cây trong điều kiện thuần dưỡng. Kết quả cho thấy: (i) môi trường MS bổ sung Kinetin 1,0 mg/L cho số chồi trung bình là 6,07 và 22,6 lá sau 8 tuần, (ii) MS có than hoạt tính 1,0 g/L đạt tỉ lệ tạo rễ 100% sau 4 tuần, (iii) cây in vitro đạt tỉ lệ sống 100% và phát triển tốt trong nhà lưới.

Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hằng năm (2021–2024) trong bối cảnh đô thị hóa tại khu vực Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh

Trương Đỗ Thùy Linh, Đỗ Thị Tám
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) hằng năm giai đoạn 2021 – 2024 trong bối cảnh đô thị hóa tại Bình Chánh. Trong nghiên cứu, các phương pháp đã được sử dụng bao gồm: thu thập số liệu, đánh giá theo thang đo Likert, theo thời gian và theo chỉ tiêu sử dụng đất. Kết quả cho thấy, KHSDĐ của địa phương được phê duyệt chậm hơn so với quy định của Luật Đất đai. Các chỉ tiêu SDĐ được thực hiện khá tốt với 77,03% đạt mức rất tốt, 7,43% đạt mức tốt, 2,7% đạt mức trung bình, 5,41% đạt mức kém và 7,43% đạt mức rất kém. Trong 472 dự án, 15,47% đã hoàn thành, 71,82% chuyển sang năm sau và 2,71% bị hủy bỏ. Diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp giảm; diện tích đất phi nông nghiệp, không phải đất ở chuyển sang đất ở giảm từ 2021 đến 2023, nhưng tăng vào 2024. Kết quả đánh giá của cán bộ cho thấy kết quả thực hiện KHSDĐ đạt mức tốt (3,77 điểm). Bên cạnh đó, 5 nhóm giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện KHSDĐ hàng năm tại Bình Chánh đã được đề xuất trong nghiên cứu.

Nghiên cứu sự phân bố của tuyến trùng ký sinh trên chuối già Nam Mỹ (Musa acuminata) tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ, Việt Nam

Huỳnh Văn Nghi, Bùi Quang Duy, Nguyễn Trường Vũ, Nguyễn Thị Thu Nga, Trần Vũ Phến
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2023 đến tháng 10/2024 tại 4 tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ với 180 mẫu được khảo sát. Tuyến trùng được ly trích từ mẫu đất và rễ theo phương pháp Baermann (dish) cải tiến xác định mật số hiện diện của từng giống tuyến trùng. Đặc điểm của quần xã tuyến trùng ký sinh cũng được xác định dựa vào các chỉ số sinh thái. Kết quả ghi nhận có 12 giống tuyến trùng hiện diện, trong đó, các giống Rotylenchulus, Helicotylenchus, Meloidogyne, Pratylenchus có tần suất xuất hiện cao trong mẫu đất tương ứng lần lượt là 80,0; 62,2; 55,6 và 42,2%; mặt khác, Meloidogyne, Helicotylenchus là hai giống cũng được ghi nhận trong mẫu rễ với tần số cao lần lượt là 63,3% và 58,9%. Mật số tuyến trùng trên cây chuối của các giống được đánh giá ưu thế trong nghiên cứu này như Rotylenchulus (1.188 con/100 g đất, 30 con/10 g rễ), Helicotylenchus (484 con/100 g đất), Meloidogyne (288 con/100 g đất, 348 con/10 g rễ), Pratylenchus (95 con/100 g đất, 40 con/10 g rễ). Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận có sự tích lũy mật số tuyến trùng ký sinh theo thời gian canh tác tại các vùng chuyên canh chuối lâu năm.

Khảo sát sinh trưởng và năng suất một số giống dưa lưới (Cucumis melo var. Cantalupensis) trồng bằng phương pháp thủy canh tĩnh

Bùi Vũ Luân, Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, Phan Ngọc Nhí
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ nhằm xác định giống dưa lưới cho sinh trưởng, năng suất và chất lượng tốt khi trồng bằng phương pháp thủy canh tĩnh trong điều kiện nhà màng. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức là 5 giống dưa lưới (1) Hạ Uyển, (2) T-One, (3) Đế Mật, (4) Thiên Long và (5) Saket 70 với 9 lần lặp lại. Kết quả cho thấy giống dưa lưới Hạ Uyển, T-One và Đế Mật tương đương nhau về năng suất lý thuyết (dao động từ 3,92 đến 4,41 tấn/1.000 m2, cao hơn Thiên Long và Saket 70 từ 24,3 đến 37,1%), khối lượng trái (1,57 - 1,76 kg/trái), đường kính gốc thân và chiều rộng lá đều cao hơn có ý nghĩa qua việc phân tích thống kê so với giống Thiên Long và Saket 70. Giống Hạ Uyển, Thiên Long, Saket 70 có brix dao động 11,9 - 13,5%, cao hơn giống T-One, Đế Mật. Giống Hạ Uyển là lựa chọn tốt nhất để sản xuất bằng phương pháp thủy canh tĩnh trong nhà màng.

Ảnh hưởng của xử lý axit boric trước thu hoạch đến năng suất và chất lượng trái quýt hồng (Citrus recticulata Blanco)

Trịnh Xuân Việt, Phạm Thị Phương Thảo, Lê Văn Hòa, Nguyễn Văn Ây
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 7/2023 đến tháng 3/2024 nhằm xác định nồng độ và thời điểm phun axit boric thích hợp trước thu hoạch nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trái quýt hồng. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với hai nhân tố gồm nồng độ axit boric  (50, 100, 150 ppm và đối chứng) và số lần phun (2 và 3 lần) tại các thời điểm 105, 113 và 120 ngày trước thu hoạch. Thí nghiệm gồm 8 nghiệm thức, lặp lại 3 lần, 2 cây/lần lặp lại. Dung dịch axit boric được phun đều lên tán cây vào buổi chiều mát với lượng 6 lít/cây, nghiệm thức đối chứng được phun nước. Các chỉ tiêu đánh giá gồm năng suất và đặc tính chất lượng trái như độ Brix, màu sắc vỏ và tỷ lệ khô đầu múi. Kết quả cho thấy xử lý axit boric trước thu hoạch cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng trái quýt hồng. Trong đó, nghiệm thức phun axit boric nồng độ 100 ppm với hai lần phun tại 113 và 105 ngày trước thu hoạch cho hiệu quả tối ưu, đạt khối lượng trái 52,32 kg/cây, năng suất 57,56 tấn/ha tăng 111,31%. Đồng thời, độ Brix đạt 11,48% tăng 41,55% và tỷ lệ trái khô đầu múi giảm còn 25,44%, cho thấy chất lượng trái được cải thiện rõ rệt.

Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn Vibrio parahaemolyticus của dịch chiết cây đước (Rhizophora apiculata) trong điều kiện in vitro

Đặng Diễm Tường, Nguyễn Thanh Thứ, Phan Thị Yến Nhi, Lâm Chí Khanh, Hồ Ngọc Trường Vũ, Nguyễn Quang Trung, Hồ Mỹ Hạnh, Trần Thị Tuyết Hoa
Tóm tắt | PDF
Việc nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết từ rễ, lá và trái đước (Rhizophora apiculata) đối với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus được thực hiện bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết bằng nước cất (98oC, 3 giờ) cho kết quả tính kháng khuẩn mạnh hơn so với cồn. Tính kháng khuẩn của dịch chiết bằng nước cất được phân loại như sau: yếu (3,7 - 4,3 mm): trái, trung bình (2,8 - 7,8 mm): lá và mạnh (6,0 - 10,5 mm): trái. Dịch chiết bằng cồn 50o, 70o và 90o từ rễ cho thấy tính kháng khuẩn yếu 4,3, 4,0, 3,7 mm, tương ứng không khác biệt giữa các nồng độ cồn; dịch chiết từ lá và trái không thể hiện tính kháng khuẩn. Tỉ lệ bột rễ đước với nước cất ở mức 1/7, 1/5 và 1/3 cho kết quả kháng khuẩn mạnh có ý nghĩa thống kê so với 1/9. Nồng độ ức chế tối thiểu của dịch chiết bằng nước cất 6,25 – 12,5 µL/mL, tương ứng tỉ lệ 1/3 - 1/7. Tỉ lệ MBC/MIC > 4 cho thấy dịch chiết rễ đước thuộc loại kìm khuẩn.

Ảnh hưởng của tỷ lệ bột và thời gian bảo quản lạnh đến chất lượng sản phẩm khoanh mực (Loligo chinensis) tẩm bột bổ sung bột đạm thủy phân từ thịt cá lóc (Channa striata)

Trương Thị Mộng Thu, Lê Thị Minh Thủy
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ bột mì: bột gạo và thời gian bảo quản lạnh (4±1oC) đến chất lượng sản phẩm khoanh mực tẩm bột bổ sung bột đạm thủy phân từ thịt cá lóc. Kết quả cho thấy, tỷ lệ phối trộn bột mì: bột gạo là 50%:40%, bổ sung 10% bột đạm thủy phân từ thịt cá lóc thì sản phẩm khoanh mực tẩm bột có hàm lượng lipid của lớp vỏ bột chiên thấp (15,9±1,27%), điểm mức độ yêu thích sản phẩm khoanh mực tẩm bột chiên tốt (màu 6,67±0,52 điểm, mùi 5,67±0,52 điểm, vị 6,00±0,63 điểm, độ giòn 6,80±0,45 điểm, điểm chung 6,17±0,75 điểm), độ cứng và độ giòn của sản phẩm cao nhất lần lượt là 182,3±20,1 g lực, 411,8±19,7 g.s và màu sắc đẹp. Sản phẩm mực tẩm bột giữ được giá trị cảm quan tốt và an toàn vệ sinh thực phẩm khi được bảo quản tối đa 12 ngày ở điều kiện lạnh (4±1oC). Kết quả nghiên cứu cho thấy bột đạm thủy phân có tiềm năng ứng dụng như một phụ gia chức năng nhằm hạn chế sự hấp thu dầu trong quá trình chiên, góp phần cải thiện sức khỏe người tiêu dùng sản phẩm chiên.

Ảnh hưởng của chu kỳ tắt sục khí đến biến động hàm lượng oxy, tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng (Monopterus albus) trong hệ thống tuần hoàn

Nguyễn Văn Triều, Nguyễn Chí Đức, Võ Hoàng Liêm Đức Tâm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của các chu kỳ tắt sục khí khác nhau ở bể lọc sinh học trong hệ thống tuần hoàn lên chất lượng nước, tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng. Thí nghiệm với ba nghiệm thức: nghiệm thức 1, sục khí liên tục 24 giờ; nghiệm thức 2, sục khí 1 giờ – nghỉ 1 giờ; nghiệm thức 3, sục khí 2 giờ – nghỉ 2 giờ; mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần. Kết quả thí nghiệm, nghiệm thức 2 mang lại hiệu quả tối ưu, đảm bảo oxy cho hoạt động của vi sinh vật và giảm chi phí vận hành. Thực nghiệm nuôi ứng dụng nghiệm thức 2, mật độ 350 con/m² (10,02±0,01 g/con). Sau 8 tháng, đạt khối lượng 210,46±7,44 g/con, tỷ lệ sống 74,8±4,7% và năng suất 110,3±10,9 kg/m3. Lợi nhuận khá cao 2,78 triệu đồng/m³, tỷ suất lợi nhuận 26,7%. Chu kỳ sục khí 1 giờ – nghỉ 1 giờ, các yếu tố môi trường được duy trì ổn định, không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và hiệu suất nuôi, đồng thời giúp tiết kiệm năng lượng và duy trì hiệu quả sản xuất.

Hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu luật học: Thực trạng và giải pháp cho Việt Nam

Nguyễn Thị Mỹ Linh, Huỳnh Thị Trúc Giang
Tóm tắt | PDF
Hợp tác quốc tế là một hoạt động được thúc đẩy rộng rãi trong các trường đại học trên toàn cầu. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc chia sẻ tài nguyên mà còn khuyến khích trao đổi ý tưởng, văn hóa và tầm nhìn để cùng nhau giải quyết những thách thức toàn cầu phức tạp. Trong lĩnh vực luật học, việc hợp tác quốc tế chủ yếu hướng đến lĩnh vực hội thảo quốc tế, dự án nghiên cứu chung, chương trình hợp tác đào tạo và các khóa trao đổi giảng viên, sinh viên. Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả tập trung phân tích hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu luật học. Kết quả nghiên cứu giúp làm rõ lý luận, thực trạng hợp tác quốc tế tại Việt Nam thông qua việc tiến hành đánh giá các số liệu, khảo sát thực tiễn nhu cầu của giảng viên, sinh viên tại cơ sở đào tạo luật - nghiên cứu trường hợp tại Khoa Luật, Đại học Cần Thơ. Qua đó, các giải pháp đã được đề ra nhằm hướng đến môi trường hợp tác quốc tế hiệu quả nhất cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực luật học tại Việt Nam trong tương lai.

Thiết kế hoạt động dạy học nghệ thuật theo định hướng STEAM cho học sinh Trung học cơ sở

Nguyễn Thị Ngọc Dung, Cao Minh Hồng Hạnh, Hoàng Thị Hằng
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Nghệ thuật - Toán học (STEAM) nổi lên như một mô hình dạy học hiện đại nhằm phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Bài viết này tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục Nghệ thuật theo định hướng STEAM ở bậc Trung học Cơ sở tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số hoạt động dạy học tích hợp các lĩnh vực STEAM được đúc kết từ các nội dung trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đưa ra những gợi mở về khả năng đổi mới phương pháp giảng dạy Nghệ thuật theo STEAM, và cách thức phát huy tiềm năng sáng tạo thông qua giáo dục Nghệ thuật liên ngành cho học sinh Trung học Cơ sở trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện đại.

Định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua giáo dục STEM: Tổng quan hệ thống theo phương pháp PRISMA trên cơ sở dữ liệu Scopus

Quản Minh Hòa, Đoàn Diệp Minh Triết
Tóm tắt | PDF
Bài viết cung cấp một tổng quan hệ thống các nghiên cứu liên quan đến việc chú trọng định hướng nghề nghiệp thông qua giáo dục STEM với đối tượng học sinh từ cấp Tiểu học đến Trung học phổ thông. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở dữ liệu Scopus theo quy trình PRISMA, với sự hỗ trợ của phần mềm VOSviewer và MaxQDA. Phân tích 216 nghiên cứu phù hợp cho thấy chủ đề này bắt đầu được quan tâm từ năm 2007 và hiện đang phát triển mạnh tại Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ và Hồng Kông. Bên cạnh đó, dựa trên tiêu chí trích dẫn ≥ 8 hoặc đồng trích dẫn ≥ 5, 25 tài liệu đã được chọn lọc để phân tích chuyên sâu. Từ đó, bài viết tổng hợp thành ba nhóm nội dung chính: (1) khung lý thuyết và các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp STEM; (2) nội dung, hình thức tổ chức và công cụ đánh giá trong các hoạt động giáo dục STEM; và (3) các định hướng triển khai giáo dục STEM trong tương lai.

Tích hợp nội dung giáo dục địa phương với định hướng phát triển bền vững: Trường hợp tài liệu giáo dục địa phương cấp Trung học cơ sở của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn trước tháng 7 năm 2025

Nguyễn Phước Bảo Khôi, La Nguyễn Kim Châu, Vương Kim Dung, Vũ Thị Oanh, Nguyễn Ngọc Uyển
Tóm tắt | PDF
Bài báo này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ tích hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững trong tài liệu giáo dục địa phương (GDĐP) cấp Trung học cơ sở tại tỉnh Bạc Liêu. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích nội dung bộ tài liệu GDĐP lớp 6 – 9 và khảo sát bằng bảng hỏi đối với 107 giáo viên tại Bạc Liêu. Kết quả cho thấy nội dung tài liệu đã bước đầu phản ánh các trụ cột của phát triển bền vững và có sự hiện diện của các chủ đề liên môn mang tính địa phương hóa. Tuy nhiên, việc phân bổ chủ đề, gắn kết nội dung dạy học với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội dài hạn của địa phương,... còn một số hạn chế. Từ đó, định hướng được đề xuất trong nghiên cứu là việc biên soạn lại tài liệu GDĐP gắn kết chặt chẽ hơn với mục tiêu phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở lý luận – thực tiễn cho việc điều chỉnh tài liệu GDĐP phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.

Khảo sát kỹ năng đặt câu hỏi phản biện của nhóm học sinh lớp 8 trường X (Trà Vinh)

Trần Thị Thanh Nguyên
Tóm tắt | PDF
Học sinh chưa biết cách đặt câu hỏi phản biện (CHPB) là một thực trạng rất đáng quan tâm đối với những người công tác trong ngành giáo dục nói riêng và xã hội nói chung. Kỹ năng đặt CHPB là một biểu hiện của tư duy phản biện. Tư duy phản biện giúp cho con người nhận thức thế giới đa chiều, sâu sắc hơn, cũng như kỹ năng đặt CHPB là một trong những chìa khóa giúp quá trình học tập của học sinh diễn ra một cách chủ động, hiệu quả. Bằng việc thực hiện các phương pháp quan sát lớp học, phân tích bài tập viết và phiếu tự đánh giá, kết quả nghiên cứu này góp phần tìm hiểu kỹ năng đặt CHPB của học sinh trung học cơ sở (THCS), cụ thể là ở lớp 8 ở trường X (Trà Vinh) và một số giải pháp cải thiện thực trạng đó đã được đề xuất.

Tiếp cận Hoàng Lê nhất thống chí trên cơ sở vận dụng quan niệm “Dĩ văn vận sự” trong tư tưởng lý luận phê bình của Kim Thánh Thán

Bùi Thị Thúy Minh, Nguyễn Kim Châu
Tóm tắt | PDF
Trên cơ sở vận dụng quan niệm “Dĩ văn vận sự” với ý nghĩa đề cao sáng tạo nghệ thuật của nhà văn trong quá trình phản ánh hiện thực lịch sử do Kim Thánh Thán đề xuất khi phê bình tiểu thuyết, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích làm rõ những nét đặc sắc của Hoàng Lê nhất thống chí trong cách tổ chức cấu trúc chương hồi, nghệ thuật khắc họa nhân vật và sự gia tăng dấu ấn cảm xúc chủ quan của người viết trong quá trình trần thuật, miêu tả. Việc tiếp cận Hoàng Lê nhất thống chí trên cơ sở vận dụng quan niệm trên không chỉ góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết chương hồi đặc sắc mà còn cho thấy quan hệ tương tác, khả năng và hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng phê bình văn học cổ điển Trung Quốc trong nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam.

Người kể chuyện khả tri nhận trong tiểu thuyết Nhụy Khúc của Đinh Phương

Nguyễn Hoài Nam
Tóm tắt | PDF
Tính tri nhận hay mức độ khả tri nhận được hiển lộ trong tự sự học cấu trúc với mức độ thuộc về tác nhân tự sự bao gồm người trần thuật và các loại hình người trần thuật. Mục đích của bài viết là sử dụng quan niệm người trần thuật khả tri nhận vào tiểu thuyết Nhụy khúc của Đinh Phương, nhằm phân tích hệ thống người trần thuật hiển lộ và hàm ẩn trong chỉ dấu văn bản đặc thù. Từ đó, làm rõ mối quan hệ giữa người trần thuật và các nhân vật, đặc biệt là trong bối cảnh gia đình, các mối quan hệ và biến cố mang tính thế hệ, tìm hiểu các người trần thuật tác động đến cấu trúc truyện và hành trình nhận thức của nhân vật.

Đánh giá các điều kiện ảnh hưởng và giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp tại thành phố Cần Thơ

Lê Thị Tố Quyên, Nguyễn Thị Bé Ba, Lý Mỷ Tiên, Nguyễn Thị Huỳnh Phượng, Cao Trung Nghĩa, Dương Thành Tài
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nông nghiệp tại thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được thu thập từ 135 bảng hỏi tại các xã thuộc huyện Cù Lao Dung và Kế Sách (trước sáp nhập đơn vị hành chính). Thông qua việc phân tích Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá và kiểm định SWOT, kết quả xác định 5 nhóm nhân tố chính: khả năng tiếp cận, tính cạnh tranh thị trường, sự tham gia của các bên liên quan, sức hấp dẫn tài nguyên du lịch và vệ sinh môi trường, an ninh trật tự. Trên cơ sở đó, các định hướng phát triển đã được đề xuất như nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường truyền thông, xây dựng sản phẩm đặc trưng và đẩy mạnh liên kết cộng đồng, góp phần thúc đẩy du lịch nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững.

Chức năng của ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ thường nhật và trong thơ

Đào Duy Tùng, Ngô Bảo Tín
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích, minh định các chức năng chính, phụ nổi trội của ẩn dụ ý niệm (ADYN) trong ngôn ngữ thường nhật và trong thơ. Theo đó, trong giao tiếp thường nhật, ADYN có sáu chức năng chính và 18 chức năng phụ. Trong thơ, ADYN có bốn chức năng chính và sáu chức năng phụ. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này còn củng cố quan điểm, rằng ẩn dụ tồn tại khắp nơi, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn trong cả tư duy. Hệ thống ý niệm trong tư duy của cả người bình thường lẫn nhà thơ phần lớn đều mang tính ẩn dụ. Điều này cũng cho thấy ADYN có chức năng quan trọng trong ngôn ngữ thường nhật, trong thơ cũng như trong tư duy của người bình thường và nhà thơ. Kết quả nghiên cứu còn giúp hiểu được chức năng của ADYN là chìa khóa quan trọng để mở ra sự hiểu biết về tư duy, ngôn ngữ cũng như thế giới quan, nhân sinh quan của cả nhà thơ lẫn những người không phải nhà thơ.

Thích ứng văn hóa trong xã hội số: Hành vi sử dụng điện thoại thông minh của người cao tuổi nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu trường hợp tại xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai

Hoàng Thị Thu Hoài, Phạm Thanh Hải, Phan Thị Thanh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích hành vi sử dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) của người cao tuổi (NCT) nông thôn Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển đổi số, tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa và lý thuyết hành vi có kế hoạch. Phương pháp hỗn hợp đã được sử dụng, bao gồm: việc khảo sát 135 NCT và phỏng vấn sâu 6 trường hợp tại xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai. Kết quả cho thấy nhận thức và thái độ tích cực là yếu tố thúc đẩy hành vi sử dụng ĐTTM. Gia đình và cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ NCT tiếp cận công nghệ và duy trì hành vi sử dụng ĐTTM. Mặc dù năng lực sử dụng còn hạn chế, phần lớn NCT sẵn sàng học hỏi nếu có môi trường hỗ trợ phù hợp. Điều này cho thấy NCT đang dần tái định hình vai trò xã hội của mình trong xã hội số. Kết quả nghiên cứu góp phần gợi mở các chính sách phát triển công nghệ thân thiện với người già, tăng cường hỗ trợ liên thế hệ và thúc đẩy sự hòa nhập số một cách bền vững cho nhóm dân số NCT.

Các thủ pháp lạ hóa ngôn từ trong thơ của các nhà thơ dấn thân ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975

Trần Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Những giá trị đẹp đẽ của tư tưởng trong thơ thường phải được truyền tải bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo hoặc riêng biệt. Các nhà thơ dấn thân ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1945 luôn có ý tưởng cách tân trong nội dung tư tưởng lẫn phương thức sáng tác. Điều này là nguyên nhân khiến dòng thơ của họ có những nét riêng. Từ góc nhìn của lý thuyết Hình thức Nga, chúng tôi nhận thấy, họ vận dụng sáng tạo trên tinh thần lạ hóa. Họ vận dụng lạ hóa ở nhiều cấp độ: lạ hóa ngôn từ, lạ hóa âm thanh, tổ chức kết cấu bài thơ và một số thủ pháp khác. Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi tiếp cận các thủ pháp lạ hóa ở phương diện ngôn từ của một số nhà thơ dấn thân ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975. Đặc biệt là thủ pháp chuyển nghĩa theo hướng tương đồng và dị biệt.

Văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay: Theo kịp thời đại nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc

Nguyễn Hồng Đan, Nguyễn Bạch Đan
Tóm tắt | PDF
Bài viết được thực hiện nhằm phân tích sự chuyển mình của văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 đến nay trong hành trình bắt nhịp với thời đại mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Với tư duy nghệ thuật đổi mới, kỹ thuật viết hiện đại và sự mở rộng đề tài đã giúp văn học phản ánh sâu sắc đời sống đương đại. Các thủ pháp như dòng ý thức, kết cấu phi tuyến hay thủ pháp liên văn bản được vận dụng linh hoạt, góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà. Dù chịu tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hiện đại hóa, cốt lõi văn hóa dân tộc vẫn được gìn giữ thông qua việc bảo tồn những yếu tố đặc trưng trong sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật. Quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam không diễn ra theo hướng vay mượn thụ động, mà là sự tiếp biến có chọn lọc và sáng tạo. Nhờ đó, sáng tạo nghệ thuật trong văn học thời kì đổi mới vừa bắt nhịp với thời đại vừa giữ được chiều sâu văn hóa Việt.

Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường của bê tông và gạch lát bê tông sử dụng tro bay và xỉ đáy: Một nghiên cứu ứng dụng thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long

Lê Thành Phiêu, Vũ Anh Pháp, Hồng Minh Hoàng, Huỳnh Trọng Phước
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá các khía cạnh khác nhau về mặt kỹ thuật - kinh tế - xã hội - môi trường của sản phẩm bê tông và gạch lát bê tông từ nguồn nguyên liệu tro bay và xỉ đáy từ hoạt động của nhà máy nhiệt điện than tại đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc đánh giá hiệu quả sử dụng thực tế sau 1 năm sử dụng. Kết quả đánh giá cho thấy, về mặt kỹ thuật, hai sản phẩm nêu trên đều đáp ứng tiêu chuẩn xây dựng theo TCVN 7744:2013 và QCVN 07:2009/BTNMT. Về mặt kinh tế, chi phí sản xuất gạch lát bê tông sử dụng tro bay và xỉ đáy thấp hơn khoảng 34%, và chi phí sản xuất bê tông thấp hơn khoảng 25% so với sản phẩm thông thường. Về mặt xã hội, người dân được trực tiếp sử dụng, nhìn nhận và đánh giá sản phẩm đạt chất lượng và chấp nhận sử dụng trong tương lai. Về mặt môi trường, đảm bảo chất lượng không phát tán các chất ô nhiễm và kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường và đặc biệt là giảm phát thải khí nhà kính so với việc sản xuất gạch lát bê tông và bê tông như hiện tại.

Ứng dụng mô hình nhân tính trong dự báo sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam

Nguyễn Thị Ngọc Thứ, Lê Ngọc Danh
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, mô hình nhân tính đã được ứng dụng nhằm phân tích và dự báo sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2027, dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2020 - 2024 được tổng hợp từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Quy trình nghiên cứu gồm bốn bước: (1) nhận diện đặc điểm chuỗi dữ liệu, (2) điều chỉnh yếu tố mùa vụ, (3) ước lượng hàm xu thế và (4) dự báo. Kết quả cho thấy mô hình đạt độ chính xác cao, với giá trị thực tế quý I năm 2025 nằm trong khoảng tin cậy 95% và gần khớp với giá trị dự báo điểm. Việc dự báo đến quý IV năm 2027 cho thấy sản lượng gạo xuất khẩu có xu hướng tăng 2,89 triệu tấn (khoảng tin cậy từ 2,13 đến 3,64 triệu tấn). Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị thực tiễn đã được đề xuất nhằm nâng cao độ chính xác và hiệu quả công tác dự báo sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

Hiệu ứng Tết nguyên đán trên thị trường chứng khoán Hà Nội

Trương Đông Lộc, Đoàn Thị Cẩm Vân, Nguyễn Trí Dũng
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm định giả thuyết về sự tồn tại hiệu ứng Tết nguyên đán trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là chuỗi chỉ số HNX-Index hàng ngày trong giai đoạn từ 04/01/2010 đến 31/12/2024. Sử dụng mô hình EGARCH (exponential generalized autoregressive conditional heteroskedasticity), kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng Tết nguyên đán tồn tại trên HNX. Cụ thể là, lợi suất thị trường trong giai đoạn 2 ngày và 5 ngày trước và sau Tết nguyên đán cao hơn lợi suất thị trường của các ngày còn lại trong năm. Ngoài ra, nghiên cứu này còn tìm thấy các bằng chứng để kết luận rằng hiệu ứng Tết nguyên đán tồn tại trong sự biến động của lợi suất thị trường. Các kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng HNX là không hiệu quả ở mức độ yếu.

Tác động của tài sản thương hiệu và không gian cửa hàng tới sự hài lòng của khách hàng: Nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Đức Nhuận
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét và đánh giá cơ chế ảnh hưởng của tài sản thương hiệu và không gian cửa hàng đến khả năng hấp thụ các khách hàng, từ đó tác động đến sự hài lòng của khách hàng với các doanh nghiệp bán lẻ (DNBL) Việt Nam. Tiếp cận từ lý thuyết S-O-R, cơ sở lý luận và mô hình giả thuyết nghiên cứu đã được thiết lập. Để kiểm định mô hình nghiên cứu, mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM được sử dụng. Dựa trên kết quả khảo sát 304 khách hàng của các DNBL Việt Nam, phần mềm SmartPLS4 được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cơ chế tác động tích cực của tài sản thương hiệu và không gian cửa hàng tới khả năng hấp thụ của khách hàng, từ đó thúc đẩy sự hài lòng của khách hàng với các DNBL Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu được chỉ ra, một số thảo luận và hàm ý được đưa ra nhằm cải thiện sự hài lòng và tăng khả năng hấp thụ sản phẩm dịch vụ của khách hàng với các DNBL Việt Nam.