Ngày xuất bản: 18-11-2025

Văn học Đài Loan và sự tiếp nhận trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

Trần Hoài Anh
Tóm tắt | PDF
Trong giai đoạn 1954-1975, với một thể chế chính trị dân chủ, cởi mở, miền Nam đã tiếp nhận nhiều nền văn học Âu - Mỹ và văn học các nước phương Tây, phương Đông, trong đó có văn học Đài Loan. Trên cơ sở của lý thuyết mỹ học tiếp nhận, các trường tiếp nhận văn học Đài Loan được trình bày trong tham luận thông qua các công trình nghiên cứu hiện hữu trong đời sống văn học miền Nam1954 -1975 của Nguyễn Hiến Lê, Mai Chưởng Đức; Phan Vĩnh Lộc; Nguyễn Phương Khanh; Hoàng Diễm Khanh; Đào Trường Phúc,... để trả lời câu hỏi vấn đề tiếp nhận văn học Đài Loan ở miền Nam diễn ra như thế nào và có ý nghĩa gì trong đời sống văn học miền Nam, khi mà một hiện tượng của văn học Đài Loan như tiểu thuyết Quỳnh Dao đã được công chúng đón nhận một cách nồng nhiệt và trở thành hiện tượng “best - seller” trong thị trường xuất bản sách văn học ở miền Nam lúc bấy giờ.

Du mục đô thị trong truyện ngắn thiếu nhi Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn văn hóa

Lê Minh Tú, Bùi Thanh Truyền
Tóm tắt | PDF
Những thay đổi trong đời sống văn hóa – xã hội của đô thị Nam Bộ trong 25 năm đầu thế kỉ XXI đã trở thành chất liệu sáng tạo cho văn học thiếu nhi. Đáng chú ý, du mục đô thị được đề cập trong các tác phẩm truyện ngắn thiếu nhi như một nguồn cảm hứng mang tính thời đại và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa – văn học, những khuynh hướng dịch chuyển không gian văn hóa được mô tả trong các văn bản như là biểu hiện đặc trưng của cảm hứng du mục đô thị trong truyện ngắn thiếu nhi ở Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2025 được tập trung phân tích. Từ đó, những đánh giá tổng quan về đặc trưng và khả năng chuyển tải các giá trị văn hóa đương đại của bộ phận văn học này cũng được đưa ra trong nghiên cứu.

Đỗ Lai Thúy và mỹ học thơ

Hồ Thế Hà
Tóm tắt | PDF
Thơ như là mỹ học của cái khác của Đỗ Lai Thuý là công trình khoa học tiếp cận và nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại ở cấp độ tổng thể và bộ phận, diện và điểm, cả nền thơ và cá thể nhà thơ trong tính lịch đại và đồng đại. Qua đó, thi trình và quy luật, mô hình và hệ hình, thi pháp chung và thi pháp riêng của thơ Việt hiện đại trong tính hệ thống và khoa học thông qua việc chỉ ra cái Khác được vạch ra- như là sự phát triển và liên tục sáng tạo của các thế hệ nhà thơ để làm nên những giá trị mỹ học thơ, lịch sử thơ. Mục tiêu của bài viết này nhằm khẳng định sự đóng góp khoa học mới mẻ của Đỗ Lai Thuý về tiến trình thơ Việt hiện đại theo tinh thần thể hiện cái khác qua các giai đoạn thơ.

Thơ Minh Đức Hoài Trinh trên Tạp chí Bách Khoa nhìn từ lý thuyết hiện sinh

Đặng Phạm Quốc Vương, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Phan Thị Ngọc Lan
Tóm tắt | PDF
Trên cơ sở lý thuyết của chủ nghĩa hiện sinh, thơ của Minh Đức Hoài Trinh trên tạp chí Bách Khoa được khảo sát và ghi nhận những đóng góp của tác giả đối với văn học đô thị miền Nam (1954-1975). Trong nghiên cứu này, các phương pháp: phương pháp tiểu sử, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp đã được sử dụng phối hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình hiện sinh trong thơ Minh Đức Hoài Trinh xuất phát từ các phạm trù: phi lý, cô đơn, ưu tư, tha nhân, dấn thân. Đi từ sự thức nhận thân phận hiện sinh, thơ bà hướng con người đến việc xác lập “nhân vị độc đáo” trong mối tương quan với tha nhân. Chính sự đặc biệt trên đã làm phong phú hơn diện mạo thơ ca đô thị miền Nam nói chung và thơ ca in trên Tạp chí Bách Khoa nói riêng. Từ đó, bài viết góp phần khám phá giá trị nội dung thơ Minh Đức Hoài Trinh một cách hệ thống và đề xuất các hướng nghiên cứu kế thừa có liên quan.

Thuận - từ nhà văn di cư đến một hình mẫu “nhà văn quốc tế”

Đỗ Thị Hường
Tóm tắt | PDF
Xuất phát từ việc phân tích ngôn ngữ sáng tác của các nhà văn di cư (bao hàm cả các nhà văn hậu thuộc địa) trong việc kiến tạo nên một nhà văn quốc tế nhìn từ lý thuyết di cư, lý thuyết hậu thuộc địa và lý thuyết văn học thế giới, trường hợp của Thuận (nhà văn Việt Nam đang định cư tại Pháp) được xem xét như một hình mẫu nhà văn quốc tế. Để làm rõ điều đó, ba luận điểm được triển khai như sự chủ động của Thuận trong việc lựa chọn ngôn ngữ sáng tạo, sự chủ động của Thuận trong việc lựa chọn đề tài và sự chủ động của Thuận trong việc đổi mới hình thức thể hiện.

Tác động của thực hành du lịch trách nhiệm của du khách đối với sự phát triển du lịch có trách nhiệm ở điểm đến - trường hợp tỉnh Kiên Giang giai đoạn trước tháng 7 năm 2025

Nguyễn Trọng Nhân, Phan Việt Đua, Trương Trí Thông, Lý Mỷ Tiên
Tóm tắt | PDF
Thực hành du lịch có trách nhiệm của du khách góp phần tạo nên sự phát triển du lịch có trách nhiệm ở điểm đến, tuy nhiên, còn thiếu nghiên cứu được thực hiện để kiểm định mối quan hệ này. Để thu hẹp khoảng trống đó, nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Kiên Giang đoạn trước tháng 7 năm 2025. Đây là một nghiên cứu định lượng nên bảng hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu với cỡ mẫu 400 và phương pháp phân tích mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được thực hiện để kiểm định những giả thuyết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thực hành du lịch có trách nhiệm của du khách được tạo thành bởi thực hành trách nhiệm kinh tế, thực hành trách nhiệm văn hóa xã hội và thực hành trách nhiệm môi trường. Cả 3 loại thực hành này đều tác động có ý nghĩa và tích cực đến phát triển du lịch có trách nhiệm với mức độ giảm dần là trách nhiệm văn hóa xã hội, trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm môi trường.

Phân tích hành vi sử dụng mã QR để thanh toán các giao dịch trên địa bàn quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ giai đoạn trước tháng 7 năm 2025

Nguyễn Lê Mẫn, Lư Phạm Thiện Duy, Nguyễn Hải Minh, Nguyễn Ánh Minh
Tóm tắt | PDF
Bài viết phân tích thực trạng sử dụng mã QR trong thanh toán tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ trước tháng 7/2025 nhằm đề xuất giải pháp phù hợp. Khảo sát 170 người dân (9/2023) được xử lý bằng SPSS qua thống kê mô tả, T-test và ANOVA. Kết quả cho thấy độ tuổi và nghề nghiệp ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tiếp cận và nhu cầu sử dụng. Nhóm trẻ, đặc biệt là học sinh – sinh viên, có tỷ lệ dùng cao, trong khi người trên 50 tuổi gặp nhiều hạn chế. Tuy nhiên, sau khi đã sử dụng, tần suất dùng không khác biệt đáng kể giữa giới tính hay nghề nghiệp. Đa số người dùng thể hiện thái độ tích cực, sẵn sàng tiếp tục sử dụng và giới thiệu cho người khác. Từ những phát hiện này, nghiên cứu kiến nghị cần tập trung vào nâng cao an toàn – bảo mật, mở rộng điểm chấp nhận QR, cải thiện hạ tầng kết nối, đơn giản hóa thao tác cho nhóm lớn tuổi và đẩy mạnh truyền thông khuyến khích sử dụng.

Du lịch sinh thái bền vững qua lăng kính giới: Vai trò của trao quyền cho phụ nữ đối với tăng cường gắn kết xã hội và hài lòng về cuộc sống

Hồ Thế Kỷ, Dương Hải Long
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu định lượng này xem xét vai trò của trao quyền phụ nữ trong việc thúc đẩy gắn kết cộng đồng và nâng cao sự hài lòng cuộc sống trong bối cảnh du lịch sinh thái. Trên cơ sở khung lý thuyết S–O–R, 367 phụ nữ địa phương được khảo sát và kiểm định giả thuyết bằng phần mềm AMOS V.23. Kết quả cho thấy bốn khía cạnh trao quyền (tâm lý, xã hội, chính trị, kinh tế) đều ảnh hưởng tích cực đến kết nối cộng đồng; trong đó, kết nối cộng đồng giữ vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa trao quyền và sự hài lòng cuộc sống. Ngoài ra, trao quyền xã hội và kinh tế còn có tác động trực tiếp đến sự hài lòng. Kết quả nghiên cứu này đóng góp cả về lý luận và thực tiễn, qua đó nhấn mạnh vai trò của trao quyền phụ nữ trong phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Ngôn ngữ nghi lễ và tri nhận mẫu hệ trong tín ngưỡng Bà Chúa Xứ: một tiếp cận từ thuyết lược đồ văn hóa

Đinh Lan Hương
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ cách ngôn ngữ nghi lễ phản ánh tri nhận mẫu hệ trong tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ tại miền Tây Nam Bộ. Dựa trên lý thuyết lược đồ văn hóa (Sharifian, 2011), các bài văn khấn dân gian được phân tích trong bài viết để xác định ba lược đồ chính: vai trò (quan hệ Mẹ - Con), không gian (miếu, núi Sam) và tương tác (cầu xin, dâng lễ). Kết quả cho thấy ngôn ngữ nghi lễ không chỉ thể hiện đức tin mà còn mã hóa tri thức tập thể, trong đó nữ thần được tri nhận như một đấng che chở và quyền uy. Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vai trò của ngôn ngữ trong việc duy trì các giá trị mẫu hệ và thế giới quan tôn giáo bản địa.

Khủng hoảng đô thị và vấn đề phát triển bền vững trong một số truyện ngắn Lào đương đại

Hán Thị Thu Hiền, Lê Thị Nga
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, phát triển bền vững trở thành mục tiêu cấp thiết không chỉ trong kinh tế, xã hội mà còn trong tư duy văn hóa nghệ thuật. Tại Đông Nam Á, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đang làm thay đổi sâu sắc không gian sống. Văn học, với vai trò là tấm gương phản ánh hiện thực, góp phần nhận diện và phê phán những thách thức ấy.  Vấn đề khủng hoảng đô thị và vấn đề phát triển bền vững trong truyện ngắn Lào đương đại qua việc phản ánh sự biến đổi cảnh quan đô thị, đứt gãy văn hóa cộng đồng và khủng hoảng bản sắc, bi kịch số phận con người và diễn ngôn phản biện được nghiên cứu. Từ đó, vai trò của văn học trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và định hướng hành động vì sự phát triển bền vững được làm rõ.

Phát triển chương trình giáo dục di sản tại các di tích lịch sử - văn hóa ở Cần Thơ

Dương Thanh Tùng
Tóm tắt | PDF
Cần Thơ là đô thị trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi hội tụ các giá trị di sản văn hóa đa dạng trong tiến trình phát triển đô thị ven sông và hoạt động giáo dục di sản đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa của cộng đồng địa phương. Thuyết tương đối văn hóa được vận dụng trong bài viết để khẳng định rằng chương trình giáo dục di sản tại Cần Thơ cần được thiết kế và triển khai theo hướng bản địa hóa, phù hợp với đặc trưng địa phương, mối quan hệ tương tác giữa cộng đồng cư dân, môi trường tự nhiên và bối cảnh đô thị hóa hiện nay. Từ đó, ba nhóm giải pháp phát triển chương trình giáo dục di sản được đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích tại Cần Thơ trong bối cảnh phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Truyện ngắn nữ Việt Nam 1975-1985 nhìn từ giọng điệu trần thuật

Hồ Tiểu Ngọc, Hoàng Thị Khánh Ly
Tóm tắt | PDF
Trong giai đoạn 1975 đến 1985, nền văn học Việt Nam hiện đại trở mình mạnh mẽ, thể hiện tiêu biểu ở thể loại truyện ngắn. Sự xuất hiện ấn tượng và ngày càng mạnh mẽ của các nhà văn nữ đã ảnh hưởng đến giọng điệu nghệ thuật của văn chương đương đại, đặc biệt ở các vấn đề xã hội và tâm lý cá nhân sau chiến tranh. Trên cơ sở đó, ba loại giọng điệu chính của truyện ngắn nữ giai đoạn 1975-1985 được tiến hành nghiên cứu, đó là: tranh biện, đối thoại; suy luận, triết lý và xót xa, thương cảm. Qua sự kết hợp linh động các giọng điệu trần thuật, các nhà văn nữ đã định hình phong cách nghệ thuật truyện ngắn riêng biệt, góp phần khắc họa chân thực bối cảnh lịch sử và tâm hồn con người Việt Nam trong giai đoạn này.

Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ trong phát triển du lịch văn hóa: Tiềm năng và định hướng khai thác bền vững

Mai Quang Thuận, Sơn Chanh Đa, Thạch Chanh Đa
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ như một nguồn lực cho phát triển du lịch văn hóa. Trong nghiên cứu, phương pháp định tính và định lượng đã được sử dụng, qua đó cho thấy các lễ hội vừa hàm chứa giá trị tâm linh, tín ngưỡng, vừa giàu sức hấp dẫn ở phương diện nghệ thuật, ẩm thực và sinh hoạt cộng đồng, nhưng cũng đang đối diện nhiều thách thức. Trên cơ sở tiếp cận du lịch bền vững, các định hướng khai thác lễ hội theo hướng tôn trọng bản sắc, đề cao vai trò cộng đồng và gắn với phát triển sinh kế cũng đã được xuất, qua đó khẳng định tiềm năng hình thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù và bền vững cho vùng đồng bào Khmer Nam Bộ.

Du lịch văn hóa dân tộc thiểu số - hướng tiếp cận đa quốc gia

Trương Thị Kim Thủy, Hồ Thị Hương Lan, Đinh Hiếu Nghĩa
Tóm tắt | PDF
Du lịch văn hóa dân tộc thiểu số đã xuất hiện như một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, tập trung vào các chủ đề như: văn hóa dân tộc thiểu số, tính chân thực, bảo tồn văn hóa dân tộc khi phát triển du lịch ở các nhóm dân tộc thiểu số. Mặc dù chủ đề này đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng trên quy mô quốc tế, nhưng khối lượng nghiên cứu vẫn còn hạn chế bởi phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, chủ đề nghiên cứu. Để đóng góp vào lĩnh vực chưa được khám phá này, thư mục được tiến hành khảo sát và nội dung các bài báo được công bố trên các tạp chí học thuật uy tín cũng được phân tích, tạo ra bằng chứng thống kê và tổng hợp các vấn đề chính đặc trưng cho nghiên cứu về du lịch văn hóa của các dân tộc thiểu số trên toàn cầu.  

Phân tích thái độ của cha mẹ về bạo lực trẻ em trong gia đình lao động nhập cư

Đỗ Thị Nga, Nguyễn Ánh Minh
Tóm tắt | PDF
Bạo lực trẻ em trong gia đình là vấn đề xã hội nghiêm trọng, đặc biệt trong các gia đình nhập cư – nhóm chịu nhiều áp lực về kinh tế, văn hóa và môi trường sống. Trong nghiên cứu, 151 phụ huynh nhập cư tại phường Thủ Dầu Một, Thành phố Hồ Chí Minh được khảo sát nhằm đánh giá thái độ của họ đối với bạo lực trẻ em và đề xuất các giải pháp giáo dục không bạo lực. Kết quả cho thấy phần lớn phụ huynh nhận thức đúng về bạo lực trẻ em, tuy nhiên vẫn còn quan điểm lệch lạc, cho rằng quát mắng, kiểm soát tài chính hoặc cô lập trẻ không phải là hành vi bạo lực. Từ đó, việc nâng cao nhận thức của phụ huynh thông qua chương trình truyền thông cộng đồng, hỗ trợ tâm lý cho phụ huynh và chuyển hoá hành vi được đề xuất trong nghiên cứu nhằm giảm thiểu nguy cơ bạo lực trẻ em trong gia đình.

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất và quản lý chương trình văn nghệ tiếng Khmer trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ

Thái Ngọc Thảo, Đỗ Thúy Vy, Nguyễn Thị Kiều Oanh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất và quản lý chương trình văn nghệ tiếng Khmer trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ – một loại hình truyền hình chuyên biệt đóng vai trò gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp khảo sát xã hội học, phỏng vấn sâu, quan sát thực địa và phân tích nội dung, kết quả nghiên cứu đã làm rõ đặc điểm tổ chức sản xuất, cơ chế thẩm duyệt và mức độ đáp ứng kỳ vọng của công chúng Khmer. Kết quả cho thấy tồn tại nhiều thách thức về nhân sự, thiết bị, quy chuẩn chuyên môn và tính tương tác với cộng đồng. Trên cơ sở đó, bốn nhóm giải pháp được đề xuất trong bài viết gồm: phát triển nhân lực kế thừa, đầu tư công nghệ sản xuất, tăng cường gắn kết cộng đồng và hoàn thiện hệ thống quản lý chuyên biệt. Nghiên cứu góp phần củng cố vai trò của truyền thông dân tộc thiểu số trong bối cảnh chuyển đổi số và đa nền tảng truyền thông hiện nay.

Khảo sát hiệu quả hệ thống quản lý học tập Moodle tại Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Cần Thơ

Lâm Thị Hương Duyên, Lý Gia Hân, Đoàn Quang Hiếu, Lê Ngọc Linh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả Moodle tại Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn, Đại học Cần Thơ từ góc độ sinh viên. Có 354 sinh viên được khảo sát bằng phương pháp định lượng và định tính, trong đó 265 sinh viên có kinh nghiệm sử dụng LMS. Kết quả cho thấy Moodle chủ yếu dùng để tải tài liệu và nộp bài tập, các tính năng tương tác còn hạn chế. Khó khăn gặp phải gồm lỗi hệ thống, kết nối mạng không ổn định và giao diện phức tạp. Phân tích hồi quy xác định chất lượng học liệu và tương tác với giảng viên là yếu tố chính ảnh hưởng hiệu quả sử dụng. Việc tối ưu giao diện, phát triển truy cập offline và tăng cường đào tạo LMS được đề xuất trong nghiên cứu. Kết quả cung cấp cơ sở thực tiễn nâng cao hiệu quả Moodle, cải thiện chất lượng giáo dục số.

Nâng cao vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long: Trường hợp nghiên cứu Hợp tác xã Nông ngư Hoà đê

Nguyễn Văn Nhiều Em, Khưu Thị Phương Đông, Lê Thị Thu Trang, Tất Duyên Thư, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Nguyên Minh, Nguyễn Hiếu Trung
Tóm tắt | PDF
This study aims to identify solutions enhancing the role of women in climate-adaptive agricultural production, using the case of Hoa De Agro-Aquaculture Cooperative as a representative example. Data were collected using the Participatory Rural Appraisal (PRA) method with 21 cooperative members, incorporating the GEDSI framework throughout the data collection and analysis process. The results show that women play a key role in both agricultural and non-agricultural activities, particularly in value-added processes. However, they continue to face numerous barriers in accessing resources, information, technical knowledge, and leadership positions. These barriers stem from social, gender-based, institutional, policy-related factors, as well as the impacts of climate change. Based on the findings, the study suggests some policy implications to enhance women’s rights and status, including improved access to credit, technical training, market access support, and encouragement of female leadership. This study successfully applied the GEDSI framework to analyze the role of women in the shrimp-rice farming model, thereby providing new empirical evidence in the context of Cooperatives.

Truyền thông đa phương tiện trong công tác tuyên truyền giá trị gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long

Trần Thị Vinh, Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, vai trò của truyền thông đại chúng đối với các thiết chế xã hội là không thể phủ nhận. Công cụ này đóng góp một cách thiết yếu vào việc duy trì và lan tỏa các chuẩn mực giá trị gia đình truyền thống tại Việt Nam. Việc ứng dụng các phương tiện truyền thông số với nhiều chức năng hỗ trợ đã tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội, góp phần hình thành luồng thông tin có sức ảnh hưởng và định hướng dư luận. Những tác động này thể hiện rõ ở sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của người dân. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam vẫn được xem là mục tiêu ưu tiên trong tiến trình xây dựng xã hội mới ở nước ta. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tiến hành phân tích chuyên sâu về mức độ và hình thức ảnh hưởng của truyền thông đa phương tiện đối với việc củng cố hệ giá trị gia đình Việt Nam tại vùng đất Tây Nam Bộ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hệ giá trị gia đình của vùng.