Tô Lan Phương * , Trần Thị Khánh Trúc , Nguyễn Hồng Tín Châu Mỹ Duyên

* Tác giả liên hệ (tlphuong@ctu.edu.vn)

Abstract

Water resource plays an important role in rice production at Soc Trang province, especially in areas affected by salinity in the dry season. “1 Must – 5 Reductions” technology package (“1M-5Rs”) including water saving in rice production was determined as the desirable solution to improve rice production efficiency in this area. To meet the above mentioned need, the study was carried out in Nga Nam district, Soc Trang province to assess the current status in rice production and to identify factors impacting upon “1M-5Rs” adaptation in the study area. ADOPT model was applied to predict the dissemination of “1M-5Rs” and to define the factors, which promote “1M-5Rs” application process in rice production. Key Informant Panel-KIP, Focus Group Discussion-FGD and household interviews were applied to collect data capturing into the ADOPT model. Results showed that farmers in the areas applied traditional farming techniques that used much more seeds, pesticides and chemical fertilizers than recommended quantities. In long term, the ADOPT model displayed that 40.5 and 95% of farmers would apply “1M-5Rs” techniques after 5 and 16 years, respectively. In which, risks, characteristics of “1M-5Rs”, farmer situation and benefits that the “1M-5Rs” can bring to the farmers, were important indicators influencing the application and potential dissemination of “1M-5Rs”. The study results confirmed that to develop a new technique in actual production, a package of solutions such as training course, farm management and local authority’s supports are very necessary.
Keywords: “1 Must – 5 Reductions”, rice production, drought area, Soc Trang, ADOPT

Tóm tắt

Nguồn nước cho canh tác lúa đóng vai trò quyết định đến hiệu quả canh tác lúa ở tỉnh Sóc Trăng, nhất là vùng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Gói kỹ thuật “1 Phải - 5 Giảm” (“1P-5G”), bao gồm kỹ thuật canh tác lúa tiết kiệm nước, được đề nghị là giải pháp kỹ thuật hiệu quả cải thiện sản xuất lúa ở Sóc Trăng. Xuất phát từ bối cảnh trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và định ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận kỹ thuật này tại địa phương. Mô hình ADOPT được ứng dụng để dự đoán khả năng phát triển kỹ thuật 1P-5G và nhận ra các yếu tố thúc đẩy tiến trình ứng dụng trong canh tác lúa. Phỏng vấn người am hiểu và hộ nông dân được thực hiện để thu thập thông tin đầu vào của mô hình ADOPT. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân vùng nghiên cứu canh tác lúa theo tập quán sử dụng lượng giống, phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật cao hơn mức khuyến cáo. Do vậy, chi phí sản xuất cao, lợi nhuận canh tác lúa thấp. Mô hình ADOPT chỉ ra rằng sau 5 và 16 năm, tỷ lệ nông dân chấp nhận áp dụng kỹ thuật đạt tương ứng là 40,5% và 95%. Rủi ro, lợi nhuận, lợi ích, tính đặc thù của kỹ thuật “1P-5G” và điều kiện nông hộ là những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nhân rộng kỹ thuật “1P-5G” trong canh tác lúa. Kết quả nghiên cứu này khẳng định rằng gói kỹ thuật được ứng dụng trong điều kiện sản xuất thực tế cần những giải pháp đồng bộ từ tập huấn kỹ thuật, tổ chức sản xuất và sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương và ngành nông nghiệp.
Từ khóa: “1 Phải – 5 Giảm”, sản xuất lúa, thiếu nước tưới, Sóc Trăng, ADOPT

Article Details

Tài liệu tham khảo

Hình 1: Kết quả dự đoán khả năng chấp nhận kỹ thuật “1P-5G” của nông dân

Kết quả dự đoán thời gian và tỷ lệ nông dân áp dụng gói kỹ thuât được mô phỏng trong điều kiện các yếu tố về mối quan tâm của người dân, đặc điểm nông dân địa phương, đặc điểm gói kỹ thuật và lợi ích tương đối mà kỹ thuật mang lại được trình bày trong Bảng 1 được giữ vững ổn định. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thực tế có một số yếu tố trong đó ảnh hưởng đến kết quả dự đoán hơn hẳn các yếu tố khác, và sự thay đổi của các yếu tố này sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả mở rộng mô hình. Qua kết quả ở Hình 2 cho thấy trong 22 yếu tố của 4 lĩnh vực ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận kỹ thuật “1P-5G” của nông dân thì có 9 yếu tố từ 6 – 14 có tác động quan trọng hơn, đặc biệt là yếu tố thứ 7, 8 và 12 (Nội dung các yếu tố được trình bày trong Bảng 6).

Xét về tác động của từng yếu tố, nếu điều kiện thuận lợi để yếu tố được thực hiện một cách hiệu quả nhất thì thời gian chấp nhận kỹ thuật “1P-5G” sẽ rút ngắn lại (cột màu xanh dưới trục hoành). Ngược lại, khi điều kiện bất lợi làm hạn chế khả năng thực hiện các yếu tố thì thời gian chấp nhận kỹ thuật “1P-5G” sẽ kéo dài (các cột màu đỏ trên trục hoành). Như vậy, yếu tố về khả năng thử nghiệm để giới thiệu kỹ thuật mới đến cộng đồng và khả năng đánh giá lợi ích của kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng giúp người dân tin tưởng và từng bước áp dụng vào thực tế sản xuất. Hơn nữa, nhu cầu của nông dân về việc học hỏi những kiến thức mới và áp dụng các tiến bộ khoa học mới là cực kỳ quan trọng. Kỹ thuật nếu được phát triển trong một cộng đồng năng động và có ý thức học hỏi sẽ dễ dàng đưa vào ứng dụng tại địa phương.

Bên cạnh đó, mức độ tác động ngày càng nghiêm trọng từ khô hạn, xâm nhập mặn hay dịch hại sẽ thúc đẩy người nông dân tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trong điều kiện khó khăn (yếu tố 6). Để đạt được điều đó, bên cạnh nỗ lực của nông dân thì sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và ngành nông nghiệp giúp người nông dân dễ dàng tiếp cận với các nguồn tư vấn và tập huấn về “1P-5G” sẽ giúp cho việc mở rộng mô hình được diễn ra nhanh hơn (yếu tố 10).

Do đó, để phát triển một kỹ thuật mới, bên cạnh các yếu tố nội tại bên trong của kỹ thuật còn có sự tác động của các yếu tố về mối quan tâm của ngành nông nghiệp địa phương và đặc tính vốn có của cộng đồng. Từ đó, khi muốn giới thiệu những kỹ thuật mới cần quan tâm chuẩn bị đồng bộ tất cả các khía cạnh nhằm giúp lựa chọn kỹ thuật mới, phương thức chuyển giao phù hợp với địa điểm, cộng đồng thì việc mở rộng mới thực sự mang lại hiệu quả.

Hình 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự mở rộng “1P-5G”

Bảng 6: Các yếu tố tác động chủ yếu đến khả năng ứng dụng kỹ thuật “1P-5G”

Từ kết quả phân tích các yếu tố tác động đến khả năng ứng dụng kỹ thuật “1P-5G” của nông dân tại địa bàn nghiên cứu, đề tài đưa ra các giải pháp cụ thể như sau:

Hầu hết người dân cần phát triển kiến thức và kỹ năng để áp dụng kỹ thuật “1P-5G” nên cần tổ chức thêm các lớp tập huấn với các nội dung chuyên sâu hơn để hướng dẫn các kỹ thuật như bón phân và phun thuốc theo nguyên tắc 4 đúng, cách nhận diện chính xác dịch hại, phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý nước ngập khô xen kẽ. Đồng thời, tăng cường thông tin, giới thiệu kỹ thuật “1P-5G” trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giúp nông dân nâng cao nhận thức về “1P-5G” và mối quan tâm đến các kỹ thuật sản xuất mới cũng như áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, máy móc vào trong sản xuất.

Người dân chủ yếu quan tâm đến khả năng áp dụng và hiệu quả của kỹ thuật nên cần tổ chức thêm mô hình trình diễn “1P-5G” ở nhiều nơi để giới thiệu, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân. Ngoài ra, tổ chức các buổi hội thảo đánh giá hiệu quả thực hiện nhằm tạo điều kiện để nông dân thấy được lợi ích và hiệu quả của kỹ thuật thì họ mới tin tưởng áp dụng.

Trong điều kiện thực tế đồng ruộng ở vùng nghiên cứu, ta cần phải cải tạo đất và hoàn chỉnh cơ sở vật chất kỹ thuật thì mới áp dụng “1P-5G” hiệu quả. Vì thế, chính quyền địa phương cần phối hợp với các ngân hàng chính sách hỗ trợ về tài chính và cơ sở hạ tầng ở mức nông hộ và cộng đồng để nông dân có đủ cơ sở vật chất thực hiện đúng các kỹ thuật khuyến cáo như trang bằng mặt ruộng, củng cố hệ thống đê bao và trạm bơm nước. Bên cạnh đó, tổ chức sản xuất quy mô hợp tác xã/tổ hợp tác, xây dựng các cánh đồng mẫu sản xuất lúa chất lượng cao giúp cho việc sản xuất đồng bộ, dễ dàng áp dụng các giải pháp kỹ thuật trên phạm vi lớn để đạt hiệu quả cao hơn.

Phần lớn nông dân được khảo sát tại địa bàn nghiên cứu chưa hiểu biết và áp dụng kỹ thuật “1P-5G” nên vẫn còn canh tác theo truyền thống như: sử dụng nhiều giống, phân bón và thuốc BVTV. Do đó, hiệu quả sản xuất chưa cao, phải đầu tư nhiều chi phí, lợi nhuận thấp. Thông qua mô phỏng bằng công cụ ADOPT, với đặc điểm cộng đồng nông dân, hiệu qủa gói kỹ thuật “1P-5G” và điều kiện tiếp cận như hiện nay thì sau 5 năm tỷ lệ nông dân áp dụng sẽ là 40% và sau 16 năm mức độ chấp nhận cao nhất của nông dân đạt 95%. Trong đó, những khó khăn cần được khắc phục trong việc phát triển đồng bộ gói kỹ thuật ở mức độ nông hộ là mặt ruộng không bằng phẳng, không chủ động được nước, áp lực sâu bệnh, đất kém dinh dưỡng. Bên cạnh đó, các yếu tố về rủi ro và lợi nhuận của kỹ thuật “1P-5G”, tính đặc thù của kỹ thuật này, đặc điểm của nông dân sản xuất lúa và lợi ích của kỹ thuật mới là những tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nhân rộng kỹ thuật “1P-5G” trong canh tác lúa. Như vậy, để kỹ thuật “1P-5G” được chấp nhận và nhận rộng tại địa bàn nghiên cứu thì đòi hỏi không chỉ năng lực kỹ thuật của nông dân mà còn năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng ruộng, cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra và chính sách hỗ trợ có hiệu quả và dài hạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Tài Nguyên và Môi trường. 2012. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Hà Nội.

Kuehne G., R. Llewellyn, D. Pannell, R. Wilkinson, P. Dolling, & M. Ewing. 2011. ADOPT: a tool for predicting adoption of agricultural innovations. Paper presented at the 55th Annual National Conference of the Australia Agricultural & Resources Economics Society, Melbourne, Victoria.

Lê Cảnh Dũng, Võ Văn Tuấn. 2014. Nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện 1 phải 5 giảm trong canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 7/2014.

Mai Như Ý. 2015. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa ở huyện Thới Lai và Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Luận văn tốt nghiệp đại học. Đại học Cần Thơ.

Nguyễn Công Thành, 2012. Những biện pháp giúp nông dân phòng tránh thất thoát sau thu hoạch. lúa. http://www.sokhcn.soctrang.gov.vn/wps/wcm/connect/32f02300405be46e8f09ff6a3b7591b5/Bai+11_02-2012.pdf?MOD=AJPERES

Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Hồng Tín và Nguyễn Văn Sánh. 2013. Thâm canh lúa & áp dụng 1 phải 5 giảm (“1P-5G”): hiện trạng, khó khăn trở ngại và biện pháp cải tiến sản xuất lúa trên cấp độ nông hộ.

Nguyễn Hồng Tín, Lê Thị Cẩm Hương, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Sánh và Châu Mỹ Duyên. 2015. Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất lúa 1 phải 5 giảm của hai nhóm hộ trong và ngoài hợp tác xã ở Kiên Giang và An Giang. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ 37: 76-85

Nguyễn Hồng Tín, Trần Thu Hà, Châu Mỹ Duyên và Nguyễn Văn Sánh. 2015. Theo dõi và đánh giá tiến trình ứng dụng quy trình kỹ thuật canh tác lúa giảm khí nhà kính 1 phải 6 giảm trong sản xuất lúa tại tỉnh An Giang và Kiên Giang. Kỷ yếu Hội thảo Tổng kết chia sẻ kết quả dự án và đối thoại chính sách nông nghiệp Carbon thấp.

Nguyễn Hữu Huân, Hồ Văn Chiến, Lê Hữu Hải, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Văn Huỳnh. 2010. Ứng dụng công nghệ sinh thái trong mô hình “Ba giảm - Ba tăng” tại Tiền Giang, “Một phải - Năm giảm” tại An Giang trong sản xuất lúa gạo theo VietGAP ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. 4 trang.

Trần Thị Khánh Trúc. 2014. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển kỹ thuật 1 phải 5 giảm ở vùng sản xuất lúa tại huyện Ngã Năm. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ. Đại học Cần Thơ.

Tổng cục Thống kê. 2012. Niên giám thống kê năm 2012.

Tổng cục Thống kê. 2014. Niên giám Thống kê năm 2014.

Chi T.T.N., T.T.T. Anh, T. Q. T., F. Palis, G. Singleton and N.V. Toan. 2013. Implementation of “one must and five reductions” in rice production, in An Giang province. Omonrice 19: 237-249 (2013).

Uỷ ban nhân dân huyện Ngã Năm. 2012. Báo cáo tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn huyện Ngã Năm từ năm 2005-2012.