Ngày xuất bản: 22-01-2026

Phân lập các flavonoid chính phục vụ công tác kiểm nghiệm dược liệu Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl., Lamiaceae)

Nguyễn Lê Yến Nhi, Nguyễn Thị Xuân Diệu
Tóm tắt | PDF
Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl.) thường được sử dụng để chữa cảm mạo, phong thấp, nôn ra máu, băng huyết, viêm dạ dày-ruột. Mặc dù Kinh giới đã được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, chuyên luận này hiện vẫn chưa có chất đối chiếu để phục vụ công tác kiểm nghiệm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập các flavonoid chủ yếu từ Kinh giới để đề xuất làm chất đối chiếu phục vụ nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng. Năm flavonoid chính gồm pedalin, luteolin-7-O-β-ᴅ-glucopyranosid, chrysoeriol-7-O-β-ᴅ-glucopyranosid, 7,3'-dimethoxyluteolin-6-O-β-ᴅ-glucopyranosid và 5,6,4'-trihydroxy-7,3'-dimethoxyflavon đã được phân lập bằng phương pháp sắc ký từ phân đoạn ethyl acetat của dược liệu. Các hợp chất được xác định cấu trúc và được đánh giá độ tinh khiết bằng HPLC, đều đạt trên 96%. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp nguồn chất đối chiếu tiềm năng, phục vụ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và đáp ứng yêu cầu cập nhật chuyên luận Dược điển trong thời gian tới.

Đánh giá khả năng phân hủy acid orange 7 của vật liệu FeCo-ZIFs với sự hiện diện của chất oxy hóa

Đặng Huỳnh Giao, Cao Đặng Hoàng Ân, Hồ Ngọc Tri Tân, Lương Huỳnh Vủ Thanh, Trần Hoàng Ái
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, vật liệu FeCo-ZIFs có cấu trúc tinh thể cao đã được tổng hợp thành công trong methanol bằng phương pháp nhiệt dung môi. Đặc điểm cấu trúc của FeCo-ZIFs được xác định bằng các phương pháp phân tích hiện đại như PXRD, FT-IR, EDX, SEM, TGA và khả năng hấp phụ khí nitơ. FeCo-ZIFs thể hiện khả năng xúc tác phân hủy acid orange 7 (AO7) tốt với sự hiện diện của chất oxy hóa potassium peroxydisulfate trong môi trường nước giả thải. Kết quả cho thấy FeCo-ZIFs có thể xử lý 99,2% AO7 nồng độ 30 mg/L trong vòng 20 phút ở nhiệt độ phòng, với nồng độ PDS và FeCo-ZIFs lần lượt là 0,1 g/L và 0,2 g/L. Điều này chứng tỏ FeCo-ZIFs là vật liệu tiềm năng để loại bỏ các hợp chất hữu cơ khó phân hủy trong môi trường nước, góp phần bảo vệ môi trường.

Than sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp: Tính chất và tiềm năng ứng dụng trong xử lý kháng sinh

Lâm Phúc Thông, Nguyễn Minh Nhựt, Đặng Huỳnh Giao
Tóm tắt | PDF
Ô nhiễm kháng sinh trong môi trường nước đang trở nên ngày càng nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người cũng như động vật. Các phương pháp xử lý kháng sinh hiện nay đang là thách thức quan trọng và chưa thể hiện được hiệu quả cao. Hấp phụ cho thấy được tiềm năng trong việc xử lý hiệu quả kháng sinh, nhất là ở nồng độ thấp. Trong các loại vật liệu hấp phụ, than sinh học (TSH) từ phụ phẩm nông nghiệp ngày càng được quan tâm trong việc xử lý các ô nhiễm môi trường do có đặc tính tốt, chi phí sản xuất thấp và thân thiện với môi trường. TSH cho thấy được hiệu quả xử lý kháng sinh cao so với các loại vật liệu khác với dung lượng hấp phụ tối đa có thể đạt hơn 550 mg/g, trong khi chi phí sản xuất chỉ trong khoảng từ 0,35 đến 1,2 USD/kg, thấp hơn đáng kể so với các loại vật liệu khác. Kết quả cho thấy TSH đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng để giải quyết hiệu quả ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam.

Cải tiến thuật toán đếm ruồi vàng vào bẫy điện tử dựa trên cơ sở phân tích hành vi

Nguyễn Văn Khanh, Trần Vỹ Khang, Nguyễn Chí Ngôn
Tóm tắt | PDF
Đếm tự động ruồi vàng hại trái là một trong những tác vụ quan trọng trong nông nghiệp. Trong đó, cơ chế đếm kép dựa vào hai cặp thu phát hồng ngoại đã được áp dụng và có hiệu quả tốt. Tuy nhiên, thuật toán đếm dựa trên cơ chế này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu, độ chính xác của cơ chế đếm kép dựa trên cơ sở các hành vi đi vào bẫy của ruồi được tập trung cải tiến. Một bẫy điện tử tích hợp cơ chế đếm kép được thiết kế và thu thập dữ liệu thực tế trong một tháng để phân tích hành vi vào bẫy của ruồi vàng. Các hành vi này được sử dụng phát triển thuật toán đếm lượng ruồi vào bẫy. Kết quả thử nghiệm thực tế cho thấy bẫy hoạt động ổn định, có thể phát hiện và đếm số lượng ruồi đi vào bẫy với độ chính xác đạt 95,05%. Kết quả đạt được của nghiên cứu có thể là cơ sở để phát triển một hệ thống tự động phát hiện, cảnh báo sớm và quản lý phân bố ruồi vàng trong tương lai.

Nghiên cứu phối chế kem hỗ trợ chống lão hóa chứa collagen trích ly từ da cá tra

Nguyễn Việt Bách, Nguyễn Thị Bích Thuyền
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, collagen được chiết tách từ da cá tra bằng acid ascorbic kết hợp enzyme pepsin. Mẫu collagen sau chiết tách được nghiên cứu phối chế kem dưỡng da bằng phương pháp nhũ hóa. Tiếp theo đó, kem được đánh giá các chỉ tiêu chất lượng theo quy định quản lý mỹ phẩm của Bộ Y tế và các đánh giá cảm quan. Kết quả đánh giá cho thấy, acid glycolic 1,0%, collagen 4,0%, cetyl alcohol 3,0% và isopropyl myristate 15,0% là các thông số thích hợp của công thức kem collagen. Mẫu kem sau khi được phối chế đạt các yêu cầu chất lượng theo quy định quản lý mỹ phẩm của Bộ Y tế và người tiêu dùng.

Nghiên cứu ứng dụng giải pháp bay quét LiDAR trong cập nhật biến động bản đồ địa chính

Văn Hùng Tiến, Nguyễn Việt Hà, Vũ Ngọc Quang
Tóm tắt | PDF
Bài toán cập nhật biến động bản đồ địa chính luôn là vấn đề cấp bách nhằm đảm bảo phản ánh kịp thời sự thay đổi trên địa bàn quản lý, tăng cường hiệu quả quản lý và công tác quy hoạch sử dụng đất. Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu, đánh giá khả năng sử dụng giải pháp bay chụp UAV kết hợp quét LiDAR trong cập nhật, chỉnh lý biến động bản đồ địa chính tại khu vực phường Bình Thọ, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu, thực nghiệm cho thấy độ chính xác đạt được khả quan, có thể đáp ứng yêu cầu độ chính xác đo đạc cập nhật bản đồ địa chính tỉ lệ 1/500 với sai số trung phương dựa trên tọa độ của các điểm khống chế mặt đất, các điểm chi tiết ranh thửa đất lần lượt là 0,0454 m và 0,0548 m khi sử dụng phương pháp bay chụp UAV kết hợp quét LiDAR và xử ảnh ở chế độ phân giải trung bình. Bên cạnh yếu tố độ chính xác, phương pháp bay chụp cũng rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện các dự án chỉnh lý biến động bản đồ địa chính.

Công nghệ tách ion điện dung (CDI) trong xử lý nước thải: Cơ chế, ứng dụng và triển vọng phát triển

Thái Phương Vũ
Tóm tắt | PDF
Nước là tài nguyên thiết yếu đối với sự sống và sự phát triển bền vững của con người. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước và khan hiếm nước ngọt ngày càng trở thành những thách thức nghiêm trọng trên toàn cầu. Trong bối cảnh đó, công nghệ tách ion điện dung (CDI) đã và đang thu hút sự quan tâm nhờ các ưu điểm nổi bật như tiêu thụ năng lượng thấp, hiệu quả xử lý cao, chi phí hợp lý, thân thiện với môi trường và khả năng tái sử dụng của vật liệu điện cực. Bài báo này được thực hiện nhằm trình bày tổng quan có hệ thống về nguyên lý hoạt động, cấu hình, vật liệu điện cực, và các ứng dụng nổi bật của công nghệ CDI, không chỉ trong khử muối mà còn trong loại bỏ kim loại nặng, hợp chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật. Trong nghiên cứu,  việc phân tích cơ hội và thách thức đã được tiến hành, đồng thời các định hướng nghiên cứu tiếp theo cũng đã được đề xuất nhằm mở rộng ứng dụng công nghệ CDI trong xử lý nước tại Việt Nam.

Điều chế than hoạt tính từ vỏ củ ấu: Ứng dụng hấp phụ thuốc nhuộm và làm điện cực siêu tụ điện

Trần Thị Hồng Ngân, Trần Trung Dũng, Huỳnh Nguyễn Như Ngọc, Trần Văn Mẫn
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, kết quả tổng hợp và khảo sát ứng dụng của vật liệu than hoạt tính (AC) từ phế phẩm vỏ củ ấu cho hai mục tiêu: xử lý nước thải và lưu trữ năng lượng được trình bày. Vật liệu được điều chế thành công bằng phương pháp nung pha rắn và hoạt hóa hóa học bằng potassium hydroxide (KOH). Phân tích XRD xác nhận cấu trúc carbon vô định hình đặc trưng, với đỉnh nhiễu xạ rộng tại 2θ ≈ 23–30° và 45°. Vật liệu có bề mặt xốp và diện tích bề mặt riêng đạt 774 m²/g. Trong ứng dụng xử lý môi trường, vật liệu đã được thử nghiệm trên mẫu nước thải thực tế từ làng nghề dệt chiếu Định Yên (Đồng Tháp), cho hiệu suất khử màu 99,89% và giảm trên 70% chỉ số BOD₅ và COD. Ngoài ra, khi ứng dụng làm điện cực siêu tụ điện trong dung dịch điện giải 1,0 M Na₂SO₄, vật liệu ghi nhận điện dung riêng cực đại là 32 F/g tại mật độ dòng 0,5 A/g, điện thế 1V và duy trì 86,5% điện dung sau 2000 chu kỳ.

Hiệu quả xử lý màu và COD trong nước thải dệt nhuộm bằng tổ hợp keo tụ và AOPs/UV

Đỗ Thị Mỹ Phượng, Đặng Quốc Gia Bảo, Phan Hoàng Duy Tân, Phan Thị Thanh Tuyền, Nguyễn Xuân Lộc
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả xử lý độ màu và nhu cầu oxy hóa học (COD) trong nước thải dệt nhuộm bằng quy trình kết hợp keo tụ và oxy hóa nâng cao sử dụng tia UV và ozone (AOPs/UV-O₃). Quy trình thực nghiệm gồm ba bước: chế tạo mô hình xử lý, xác định điều kiện tối ưu cho quá trình keo tụ, và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất AOPs/UV-O₃. Kết quả cho thấy, quá trình keo tụ đạt hiệu quả tối ưu tại pH = 6,5 với liều lượng PAC 600 mg/L và Polymer Anion 4 mg/L, đạt hiệu suất loại bỏ 71,4% độ màu và 55% COD. Giai đoạn AOPs/UV-O₃ thực hiện với thời gian phản ứng 40 phút và chiếu UV liên tục giúp nâng cao hiệu quả xử lý, đạt tổng hiệu suất loại bỏ 81,4% đối với độ màu và 87% đối với COD. Kết quả cung cấp các thông số vận hành hiệu quả, có thể được áp dụng để cải thiện hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm, điều này góp phần định hướng phát triển công nghệ xử lý hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Leptogenesis trong mô hình đối xứng A4 modular cho khu vực lepton với cơ chế seesaw tối thiểu

Nguyễn Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Thanh Phong
Tóm tắt | PDF
Nhóm gián đoạn A4 modular trong mô hình siêu đối xứng tối thiểu, với cơ chế seesaw loại I tối giản để sinh khối lượng các neutrino được đề xuất nhằm hạn chế số lượng các tham số tự do và các trường mới khi mở rộng mô hình chuẩn. Kết quả tính số cho thấy, mô hình đề xuất đã giải thích thỏa đáng tất cả các số liệu thí nghiệm các lepton ở độ chính xác . Dựa trên các số liệu thực nghiệm, các giá trị được phép của các tham số của mô hình cũng được tìm thấy. Quá trình leptogenesis cũng đã được tính toán, kết quả tính số chỉ ra rằng, bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất của Vũ trụ đã được giải thích thỏa đáng bởi mô hình đề xuất trong nghiên cứu này.

Đa dạng loài và tỷ lệ sản lượng của các nhóm hải sản ở vùng biển ven bờ, vùng lộng tỉnh Nghệ An dựa trên kết quả điều tra bằng lưới kéo đáy

Tạ Phương Đông, Nguyễn Văn Giang, Vũ Việt Hà
Tóm tắt | PDF
Nghệ An là một tỉnh trọng điểm về phát triển nghề cá biển ở nước ta, nhưng trong những năm gần đây nguồn lợi hải sản đang đứng trước nhiều thách thức do hoạt động khai thác quá mức. Để có cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, hai chuyến điều tra theo mùa gió Đông Bắc và Tây Nam năm 2022, kết hợp với các trạm điều tra lịch sử được thực hiện, từ đó cung cấp thông tin về sự đa dạng cũng như cấu trúc nguồn lợi tại vùng biển này. Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng biển Nghệ An có thành phần loài đa dạng với 483 loài/nhóm loài hải sản đã được ghi nhận, trong đó có 346 loài cá, 93 loài giáp xác, 32 loài chân đầu, 9 loài chân bụng, 3 loài hai mảnh vỏ. Riêng các chuyến điều tra năm 2022 chỉ ghi nhận được 224 loài. Các chỉ số đa dạng Shannon - Weiner, Eveness và Simpson lần lượt là: H‘ = 3,28; E = 0,52; D = 0,74. Sản lượng nhóm cá đáy chiếm ưu thế nhất, tiếp theo nhóm giáp xác. Tỷ lệ sản lượng thay đổi đáng kể theo mùa, thể hiện rõ ở vùng ven bờ với sự gia tăng tỷ lệ giáp xác trong mùa gió Tây Nam.

Vai trò của khuyết nguyên tử và điện trường song song trong điều khiển tính chất điện tử của graphene nanoribbons: Sự khác biệt giữa dạng biên armchair và zigzag

Nguyễn Thị Kim Quyên, Ngô Văn Chinh, Phạm Nguyễn Hữu Hạnh, Vũ Thanh Trà
Tóm tắt | PDF
Đề tài khảo sát cấu trúc điện tử và một số đặc trưng dẫn của graphene nanoribbons (GNRs) theo hai dạng biên armchair (AGNRs) và zigzag (ZGNRs) dưới tác dụng của khuyết một nguyên tử và điện trường song song bằng phương pháp gần đúng liên kết mạnh và phương pháp luận hàm Green. Khảo sát M = 14, kết quả cho thấy rằng, với sự tác động đồng thời của hai tác nhân, độ rộng vùng cấm của vật liệu đã mở ra, vật liệu đã có thể chuyển trạng thái từ kim loại sang bán dẫn - điện môi. Ngoài ra, kết quả cho thấy khuyết nguyên tử đóng vai trò mạnh mẽ trong cấu trúc AGNRs; trong khi đó, ảnh hưởng của điện trường song song lại chiếm ưu thế trong mô hình ZGNRs. Đặc biệt, với sự kết hợp của hai kích thích, hiệu ứng tổng hợp trở nên rõ nét hơn. Như vậy, các kết quả thu được mang ý nghĩa của việc gợi ý phát triển các mô hình tiên đoán, nhằm ứng dụng vật liệu AGNRS và ZGNRs trong các lĩnh vực nhiệt điện, điện tử và  bán dẫn trong tương lai.

So sánh đặc điểm hình thái, cấu trúc giải phẫu của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) được trồng tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng

Phùng Thị Hằng, Nguyễn Trọng Hồng Phúc, Phan Thành Đạt, Võ Thị Hạnh, Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Phúc Đảm, Nguyễn Khởi Nghĩa
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát và xây dựng hệ thống dữ liệu về điều kiện đất trồng, hình thái, giải phẫu (ở từng giai đoạn khác nhau) của cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) tại vùng đồng bằng sông Cửu long (với 3 địa điểm nghiên cứu là Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang). Kết quả cho thấy tại ba địa điểm nghiên cứu cây xuyên tâm liên đều đạt tốt các chỉ số sinh trưởng (chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá). Trong đó, mẫu thu tại địa điểm Cần Thơ đạt ở mức cao hơn 2 địa điểm còn lại. Đặc điểm đặc biệt của đất ở khu vực này là hàm lượng chất hữu cơ cao. Cấu trúc giải phẫu của thân và lá cây xuyên tâm liên ở các giai đoạn khác nhau đã được mô tả. Kích thước, số lượng một số loại mô có khả năng dự trữ (các hợp chất thứ cấp, dược liệu) và biểu hiện đặc tính thích nghi đã được đo đếm, thống kê và so sánh. Các số liệu này có thể giúp xác định các giai đoạn khai thác cây xuyên tâm liên một cách thích hợp hơn.

Phân lập và tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men bốn loại dịch ép trái cây

Dương Thị Bích, Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Văn Bá
Tóm tắt | PDF
Việc tuyển chọn nấm men chịu nhiệt và lên men nhiều loại trái cây là rất cần thiết trong lĩnh vực lên men đồ uống, giúp giảm chi phí làm mát và áp dụng trên nhiều nguyên liệu. Trong nghiên cứu, 6 dòng nấm men có khả năng sản xuất ethanol với nồng độ từ 4 đến10% đã được phân lập và tuyển chọn. Trong đó, 5 dòng phát triển ở nhiệt độ 45oC trong môi trường YPD lỏng. Qua khảo sát sàng lọc, dòng MR phân lập từ mít, có thể phát triển ở nhiệt độ 45oC, pH 3,5 và lên men được các loại trái cây như ổi, khế, mít và cam sành đạt nồng độ ethanol tương ứng 10%, 10%, 8% và 6% được chọn. Trình tự gen 18S rRNA của dòng MR được phân tích cho thấy mức độ tương đồng 91,34% với Saccharomyces cerevisiae AUMC 10233. Các điều kiện nhiệt độ, pH, thời gian lên men và từng loại trái cây được tiếp tục khảo sát để khai thác tối đa khả năng lên men của dòng MR, nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất ethanol và đa dạng nguyên liệu.

Ứng dụng chỉ thị phân tử để phân biệt ba loài cây thuốc dễ nhầm lẫn thuộc chi Ba bét (Mallotus Lour.)

Nguyễn Diệp Anh, Nguyễn Thị Thu, Trương Khánh Huyền, Kiều Bảo My, Trần Thị Thùy Anh, Lã Thị Thùy, Nguyễn Anh Đức, Tô Thanh Thúy, Trần Đức Long, Nguyễn Thị Kim Thanh
Tóm tắt | PDF
Chi Ba bét (Mallotus) có nhiều loài giống nhau về hình thái, dễ bị nhầm lẫn. Trong đó, ba loài M. floribundus, M. peltatus và M. philippensis là những loài có giá trị làm thuốc, có vùng phân bố rộng và có hình thái cơ quan sinh dưỡng tương tự nhau, dễ nhầm lẫn trong quá trình thu hái. Chỉ thị DNA đang được dùng ngày càng nhiều và có thể giúp xác định đúng loài ngay cả khi thiếu chuyên gia phân loại hình thái. Trong nghiên cứu này, ba chỉ thị DNA cốt lõi cho thực vật là rbcL, matK và ITS được nghiên cứu để phân biệt ba loài dược liệu có hình thái tương tự là M. floribundus, M. peltatus và M. philippensis. Kết quả cho thấy tổ hợp ba chỉ thị ITS, rbcL và matK hoặc tổ hợp hai chỉ thị ITS và rbcL hoặc ITS và matK hoặc chỉ riêng chỉ thị ITS hoặc một phần của ITS là ITS1 hoặc ITS2 có thể dùng để phân biệt ba loài Ba bét này.

Khảo sát đặc tính stress muối KCl, NaCl đến khả năng thu nhận hàm lượng carotenoid ở chủng Rhodotorula mucilaginosa

Ngô Đại Nghiệp, Nguyễn Hoàng Thảo Ly
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của stress thẩm thấu do muối KCl, NaCl và tổ hợp KCl – NaCl đến sinh trưởng, khả năng sinh tổng hợp carotenoid và hoạt tính kháng oxy hóa của nấm men Rhodotorula mucilaginosa. Kết quả cho thấy nồng độ KCl 0,5 M và NaCl (0,5 – 1,5 M) duy trì sinh khối ở mức khá cao, đồng thời cảm ứng tích lũy carotenoid. Tổ hợp muối KCl 0,5 M – NaCl 1,0 M cho kết quả tối ưu, đạt hàm lượng carotenoid cao nhất (230,40 µg/g) mà vẫn giữ được sinh khối đáng kể. Việc phân tích bằng sắc ký lớp mỏng giúp xác định sự hiện diện của astaxanthin và β-carotene, với cường độ astaxanthin tăng rõ ở mẫu stress muối. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa cho thấy mẫu carotenoid có năng lực khử và khả năng bắt gốc tự do ABTS⁺ vượt trội so với Trolox, với giá trị IC₅₀ của mẫu stress muối thấp hơn gấp ba lần. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của carotenoid từ R. mucilaginosa như chất chống oxy hóa tự nhiên trong thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm.

Ảnh hưởng của tia gamma lên sự thay đổi hình thái ở các dòng hoa tử la lan (Sinningia speciosa)

Huỳnh Lâm Anh Kiệt, Trịnh Ngọc Ái, Nghị Khắc Nhu, Trần Thị Thảo Đang, Lê Văn Thức
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, các chồi tử la lan được xử lý chiếu xạ bằng tia gamma ở các liều khác nhau(0, 10, 20, 30, 40, 60 và 80 Gy).Các chồi được tách riêng và được nuôi cấy trên môi trường 1/2MS có bổ sung 0,2 mg/L NAA để tạo rễ trong 6 tuần.Cây con được thuần dưỡng,các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển được theo dõi và đánh giá.Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi kiểu phát hoa và màu sắc hoa từ đỏ đậm đến đỏ hồng, một số dòng xuất hiện các đốm trắng trên cánh hoa.Liều chiếu xạ 20 Gy cho thấy có sự gia tăng về chiều cao cây, số lá, chiều dài lá và rộng lá trong khi đó, liều chiếu xạ 10 Gy được xem là tối ưu cho quá trình hình thành hoa như số nụ/cây,số hoa cây,đường kính hoa và độ bền hoa.Việc phân tích mối quan hệ di truyền dựa vào các chỉ tiêu hình thái cho thấy các dòng đã xử lý ở liều chiếu xạ 10 Gy,20 Gy,60 Gy và 40 Gy có mối quan hệ với dòng đối chứng.Dòng 30 Gy và 80 Gy có mối quan hệ gần nhau, nhưng tách biệt với dòng đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy liều chiếu xạ 10 Gy có thể giúp cho các nhà nhân giống lựa chọn được các dòng Từ la lan đột biến về hình dáng và màu sắc hoa.

Ảnh hưởng của điều kiện chần vi sóng đến hoạt độ enzyme peroxidase, màu sắc và các hợp chất sinh học trong rau má (Centella asiatica (L.) Urb.)

Châu Văn Đan, Nguyễn Tuấn Anh, Huy Thị Tuyết Nga, Nguyễn Tuấn Khang, Trần Chí Nhân
Tóm tắt | PDF
Công suất và thời gian chần vi sóng thích hợp nhằm vô hoạt enzyme peroxidase (POD), cải thiện màu sắc, duy trì hàm lượng hợp chất sinh học và khả năng kháng oxy hóa của rau má được xác định trong nghiên cứu. Rau má được chần trong lò vi sóng với hai nhân tố khảo sát là công suất (200, 300, 400, 500 và 600 W) và thời gian (0, 30, 45, 60, 75 và 90 giây). Chần rau má ở 500 W trong 60 giây có khả năng vô hoạt 90% POD và cải thiện tốt màu sắc (L* = 55,73±0,69, a* = -4,74±0,13 và b* = 12,55±0,79). Đồng thời, điều kiện này cũng duy trì tốt hàm lượng polyphenol (TPC) (118,10±2,85 mg GAE/g), flavonoid (TFC) (110,10±0,44 mg QE/g) và khả năng loại gốc tự do DPPH (10,20±0,61 mg TE/g). Động học vô hoạt POD ở công suất 500 W tuân theo mô hình bậc nhất với hệ số xác định cao (R2 = 0,9447), các thông số động học được ghi nhận lần lượt là k = 0,0377 s-1 và D = 61 giây. Ngoài ra, kết quả cũng ghi nhận sự tương quan cao giữa hoạt độ POD và giá trị L*, a*, TPC, TFC, khả năng loại gốc tự do DPPH (r = -0,740; 0,851; -0,812; -0,656 và -0,939, tương ứng).

Ảnh hưởng của quá trình tiền xử lý, tỷ lệ gia vị và phương pháp gia nhiệt đến chất lượng sản phẩm chà bông nấm bào ngư (Pleurotus sajor-caju)

Tống Thị Ánh Ngọc, Đặng Thị Thu Tâm, Phan Ngọc Hạnh Ngân
Tóm tắt | PDF
Nấm bào ngư (Pleurotus sajor-caju) là nguyên liệu giàu dinh dưỡng và chứa nhiều hợp chất sinh học có hoạt tính chống oxy hóa (phenolic tổng số: 1,92±0,21 mg GAE/g, DPPH: 3,50±0,20 mg TE/g), nhưng khó bảo quản do độ ẩm cao (>90%). Nghiên cứu được thực hiện nhằm chế biến chà bông nấm với chất lượng tốt thông qua khảo sát công đoạn xử lý (xé – chần – cấp đông), hàm lượng hạt nêm (3, 4, 5%) và đường (5, 6, 7%) và phương pháp xử lý nhiệt (sấy, sao rang, kết hợp). Kết quả cho thấy, nấm được xé – chần – cấp đông tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ, chế biến. Hạt nêm được bổ sung 4% và 5% đường kết hợp với sấy và sao rang giúp chà bông nấm đạt chất lượng tốt với độ ẩm 20±1%, aw 0,65, hiệu suất thu hồi >77%, và mức độ yêu thích 8/9 điểm. Nghiên cứu đã phát triển quy trình sản xuất bằng việc kết hợp các phương pháp chế biến, rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao giá trị cảm quan, mà không làm giảm chất lượng sản phẩm.

Ảnh hưởng của pectinase và chế độ cô đặc chân không đến hàm lượng betacyanin trong dịch quả thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus)

Hồ Quốc Việt, Nguyễn Thị Kim Tuyến, Nguyễn Trung Thành, Hà Thanh Toàn
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của enzyme pectinase và điều kiện cô đặc chân không đến hàm lượng betacyanin, hoạt tính chống oxy hóa trong dịch quả thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus). Mẫu được xử lý với các nồng độ pectinase 0,05 – 0,10% trong 15 – 60 phút ở 30 – 40°C, sau đó cô đặc ở áp suất chân không 560 – 680 mmHg đến mức chất khô 18 – 24°Brix. Kết quả cho thấy, điều kiện xử lý với 0,075% enzyme trong 45 – 60 phút, cho hiệu suất thu hồi khoảng 80%, hàm lượng betacyanin 339–345 mg/L và hoạt tính chống oxy hóa cao nhất (IC50 = 7,59%). Theo thời gian cô đặc, hàm lượng betacyanin có xu hướng tăng lên do hiện tượng tập trung chất màu, trong khi thay đổi áp suất chân không không ảnh hưởng đáng kể. Việc kết hợp xử lý enzyme ở nồng độ thích hợp với cô đặc chân không cho phép nâng cao hiệu suất thu hồi, bảo toàn sắc tố tự nhiên và hoạt tính sinh học, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm từ thanh long ruột đỏ.

Hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất cải xanh (Brassica juncea) và đặc tính đất ở thực tế đồng ruộng tại thành phố Cần Thơ

Châu Thị Anh Thy, Nguyễn Thị Kiều Oanh, Trần Trung Hừng, Nguyễn Khởi Nghĩa
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của hai dòng vi khuẩn Curtobacterium citreum HH5 và Curtobacterium luteum MT6 lên sinh trưởng, năng suất của cải xanh và đặc tính đất tại Thành phố Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Kết quả qua ba vụ thí nghiệm cho thấy, hai dòng vi khuẩn MT6 và HH5 giúp giảm 25% phân bón hóa học, đồng thời cải thiện chiều cao cây, chiều dài lá, chỉ số SPAD của lá, năng suất và sinh khối khô của cải xanh, đặc biệt giúp giảm hàm lượng nitrat tích lũy trong thân cây. Dòng vi khuẩn MT6 kích thích chiều dài rễ, tăng năng suất và sinh khối khô tốt hơn dòng vi khuẩn HH5. Cả hai dòng vi khuẩn đều giúp cải thiện P hữu dụng, EC và pH trong đất so với nghiệm thức chỉ bón phân hóa học. Đặc biệt, dòng vi khuẩn MT6 giúp tăng Pts trong thân và Phd trong đất. Ngoài ra, các nghiệm thức có chủng vi khuẩn cũng giúp cải thiện mật số vi khuẩn cố định đạm, hòa tan lân và silic trong đất.

Tuyển chọn và phục tráng giống tỏi (Allium sativum L.) Phan Rang tại tỉnh Ninh Thuận

Phạm Văn Hiền, Trần Văn Khang, Bùi Minh Trí, Phan Hải Văn, Phan Công Kiên
Tóm tắt | PDF
Giống tỏi Phan Rang có hơn 35% nông dân tự lưu giữ giống tỏi cho vụ sau chưa đúng phương pháp, việc tận dụng cả tép tỏi không đạt chuẩn giống để trồng làm cho giống tỏi ngày càng bị thoái hóa, năng suất và phẩm chất tỏi giảm thấp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tuyển chọn và phục tráng được giống tỏi Phan Rang có năng suất cao hơn các giống tỏi sản xuất đại trà 10% và duy trì được phẩm chất đặc trưng của giống tỏi Phan Rang trong điều kiện khí hậu và đất đai tại tỉnh Ninh Thuận. Phương pháp chọn lọc quần thể được cải tiến. Kết quả sau 3 vụ, từ 1.017 mẫu giống G0 (ruộng vật liệu khởi đầu) của giống tỏi Phan Rang, 210 mẫu giống tỏi G1 (ruộng các dòng ưu tú chọn được ở G0) đã được tuyển chọn và phục tráng được 7 dòng hỗn L1, L2, L3, L4, L5, L6, L7 (L: lô thí nghiệm) của giống tỏi Phan Rang đạt cấp siêu nguyên chủng với số lượng củ tỏi phục tráng được là 8.180 củ, tương đương 167 kg giống tỏi Phan Rang thuần chủng. Năng suất của các dòng đơn trong dòng hỗn đạt từ 10,6 đến 10,9 tấn/ha, cao hơn đối chứng chưa phục tráng từ 30,9 đến 39,5%.

Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở tiềm năng đất đai tại thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang

Phan Chí Nguyện, Hà Trọng Tính, Huỳnh Trầm Mộng Duy, Nguyễn Thị Song Bình, Vương Tuấn Huy, Phạm Thanh Vũ
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm xác định tiềm năng đất đai về tự nhiên, kinh tế làm cơ sở đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp mang tính bền vững cho thị xã Tịnh Biên. Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai của The Food and Agriculture Organization [FAO] (1976, 2007) được áp dụng nhằm xác định khả năng thích nghi tự nhiên và kinh tế cho các loại hình sử dụng đất nông nghiệp. Kết quả có 05 vùng thích nghi đất đai tự nhiên, 08 vùng thích nghi đất đai kinh tế kết hợp tự nhiên được xây dựng cho sáu kiểu sử dụng đất từ 10 đơn vị đất đai. Thông qua đó, ba vùng sản xuất nông nghiệp được đề xuất với các loại hình sử dụng đất được chọn lựa và ưu tiên khi thực hiện triển đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, các giải pháp khắc phục các yếu tố giới hạn đến khả năng thích nghi đất đai về công trình và phi công trình cũng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khai thác tài nguyên đất đai mang tính bền vững trong điều kiện ngập lũ, khô hạn và đất nhiễm phèn.

Ảnh hưởng của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa vụ hè thu trên nền đất lúa-tôm trong điều kiện nhà lưới

Nguyễn Hoàng Anh, Bùi Thị Thiên Hương, Cao Tấn Phát, Nguyễn Kim Tường An, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Đức Trọng, Lê Thị Mỹ Thu, Trần Trọng Khôi Nguyên, Nguyễn Quốc Khương
Tóm tắt | PDF
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) cố định đạm (N) đến sinh trưởng và năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2023 trồng trên một số nền đất nhiễm mặn lúa - tôm của Châu Thành - Trà Vinh, Mỹ Xuyên - Sóc Trăng, Thới Bình - Cà Mau và An Biên - Kiên Giang trong điều kiện nhà lưới. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong đó, nhân tố A là bốn mức bón phân N (100, 75, 50, 0% N theo công thức khuyến cáo 100N-60P2O5-30K2O) và nhân tố B là PNSB cố định N, Rhodobacter sphaeroides (không bổ sung vi khuẩn, bổ sung dòng đơn R. sphaeroides S01, dòng đơn R. sphaeroides S06 và hỗn hợp hai dòng vi khuẩn R. sphaeroides S01 và S06), với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 8 cây/chậu. Kết quả cho thấy việc bổ sung vi khuẩn R. sphaeroides S01, S06 đã cải thiện chiều cao cây lúa (2,60 - 24,3%), chiều dài bông (4,42 - 14,3%), số bông/chậu (7,48 - 25,4%), số hạt chắc/bông (3,11 - 40,4%), tỷ lệ hạt chắc (0,68 - 23,6%) và năng suất hạt lúa (7,03 - 69,9%) trên nền đất của 4 vùng nghiên cứu.

Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong nuôi cá lóc (Channa striata) ở An Giang và Trà Vinh

Trần Minh Phú, Trương Thành Nhân, Nguyễn Quốc Thịnh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát hiện trạng sử dụng kháng sinh trên cá lóc (Channa striata) thông qua việc phỏng vấn 103 hộ nuôi tại 2 tỉnh An Giang (47 hộ) và Trà Vinh (56 hộ) từ tháng 10/2023 đến tháng 08/2024. Kết quả khảo sát cho thấy có 8 dấu hiệu bệnh lý được người nuôi mô tả, xuất hiện nhiều bao gồm xuất huyết (97,3% - 100%), gan, thận mủ (87,5% - 100%) và ghẻ lở (63,3% - 92,3%) trong mô hình nuôi ao và vèo. Người nuôi đã sử dụng 14 loại kháng sinh đơn và 1 hợp chất kháng sinh để kiểm soát các dấu hiệu bệnh do vi khuẩn gây ra. Các loại kháng sinh được sử dụng phổ biến là amoxicillin, florfenicol, doxycycline và sulfadiazine + trimethoprim. Các hộ nuôi cá lóc trong ao sử dụng kháng sinh từ 2 đến 6 lần/vụ nuôi, trong khi đó, từ 3 đến 5 lần/vụ đối với các hộ nuôi vèo và từ 2 đến 5 lần/vụ đối với các hộ nuôi bể. Việc tập huấn cho người nuôi về việc sử dụng kháng sinh đúng cách đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng là cần thiết.

Ảnh hưởng của đực giống Pietrain, Yorkshire và Duroc đến số con, tăng trưởng và tỷ lệ chết trước cai sữa ở heo con

Hồ Thiệu Khôi, Võ Công Thi, Nguyễn Thị Ánh Hậu, Hồ Quảng Đồ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của giống đực (Pietrain, Yorkshire và Duroc) đến năng suất sinh sản và khả năng sinh trưởng của heo con từ lúc sinh đến cai sữa của nái hậu bị (Landrace × Yorkshire). Kết quả cho thấy giống đực Yorkshire cho số heo con sinh ra (17,77 ± 0,74 con/ổ) và cai sữa (16,11 ± 0,88 con/ổ) cao nhất (p < 0,001), trong khi giống Duroc lại có khối lượng cai sữa (7,80 ± 0,14 kg) và tăng khối lượng trung bình hàng ngày toàn kỳ (228,41 ± 5,36 g/ngày) cao hơn hai giống heo đực còn lại (p < 0,01). Tỷ lệ chết trước cai sữa của heo con không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giống (p > 0,05), tuy nhiên nhóm Duroc có xu hướng tử vong thấp hơn. Kết quả gợi ý rằng việc lựa chọn giống đực có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng đàn con và hiệu quả chăn nuôi trong giai đoạn trước cai sữa.

So sánh đặc điểm sinh sản của heo nái và tăng trưởng của heo con giữa tổ hợp giống nái Pietrain x (Landrace x Yorkshire) và Landrace x Yorkshire

Hồ Thiệu Khôi, Võ Công Thi, Nguyễn Thị Ánh Hậu, Hồ Quảng Đồ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh đặc điểm sinh sản của nái và tăng trưởng của heo con giữa hai tổ hợp giống nái Pietrain x (Landrace x Yorkshire) (Pi-LY) và Landrace x Yorkshire (L-Y). Thí nghiệm được thực hiện trên 240 nái (lứa 3 – 5) phối với đực Duroc, gồm 120 nái Pi-LY và 120 nái L-Y. Nái Pi-LY có tuổi lên giống lần đầu (TLGLĐ) cao hơn (195 ± 1,92 và 189 ± 1,51 ngày, p < 0,05) và tổng thời gian đẻ (TTGĐ) ngắn hơn (319 ± 16,5 và 382 ± 16,4 phút, P < 0,05). Trong khi đó, nái L-Y cho số con sơ sinh (SCSS) (16,57 ± 0,23 và 15,71 ± 0,24 con, P = 0,02) và SCSS còn sống (SCSSCS) (15,65 ± 0,25 và 14,74 ± 0,23 con, p = 0,01) cao hơn đáng kể. Khối lượng heo con ở 40 ngày tuổi (KL40NT) ở nhóm L-Y cũng cao hơn (10,55 ± 0,15 và 9,79 ± 0,19 kg, P = 0,001), đồng thời khối lượng cai sữa trên mỗi nái mỗi năm (KLCS/N/N) của L-Y vượt trội (7,57 ± 0,11 và 7,02 ± 0,11 kg, p = 0,001). Qua đó, kết quả giúp phản ánh rõ sự khác biệt về di truyền giữa hai tổ hợp giống, trong đó giống L-Y với ưu thế từ dòng chuyên sinh sản, cho hiệu quả vượt trội về số lượng và tốc độ tăng trưởng của heo con trước cai sữa.

Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

Phí Đình Khương
Tóm tắt | PDF
Trong những năm qua, công tác bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên tại các trường trung học cơ sở đã bắt đầu được chú trọng, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn hạn chế. Việc tư vấn tâm lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của giáo viên, thiếu vắng các kỹ năng chuyên môn bài bản. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn qua bảng hỏi với 45 cán bộ quản lý, 450 giáo viên, 300 phụ huynh và 300 học sinh tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông. Phần mềm SPSS 22.0 được sử dụng làm phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ thực trạng về công tác bồi dưỡng, chỉ ra các điểm mạnh và yếu. Từ đó, các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

Phát triển năng lực khoa học của học sinh thông qua dạy học nội dung "Không khí" trong môn Khoa học 4 bằng truyện tranh khoa học

Trần Thị Phương Dung, Nguyễn Huỳnh Thanh Ngân, Ngô Thanh Tấn, Lê Phương Uyên, Trần Minh Mẫn, Trịnh Thụy Xuân Thảo, Lưu Tăng Phúc Khang
Tóm tắt | PDF
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, việc chọn hình thức dạy học phù hợp ở tiểu học là cần thiết. Bài học “Không khí” trong môn Khoa học lớp 4 thường gây khó khăn cho học sinh trong hình dung và vận dụng kiến thức thực tiễn. Việc thiết kế và thử nghiệm dạy học bằng truyện tranh khoa học trong nghiên cứu nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh tiểu học. Dựa vào lí luận truyện tranh khoa học và tiếp cận kiến tạo, truyện “Hành trình truy tìm hơi thở xanh” được xây dựng và áp dụng với hai nhóm học sinh tại một trường tiểu học. Kết quả phân tích định lượng cho thấy lớp thực nghiệm đạt kết quả học tập cải thiện so với lớp đối chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), đồng thời thể hiện tiến bộ đồng đều giữa học sinh. Tính khả thi và hiệu quả của truyện tranh khoa học được khẳng định trong nghiên cứu như công cụ dạy học tích cực, góp phần phát triển tư duy và năng lực khoa học học sinh.

Hiện trạng và đề xuất biện pháp sử dụng phương pháp mô phỏng để phát triển tư duy không gian trong dạy học Địa lí 12

Lý Thị Huỳnh Như
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo, việc xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc phát triển tư duy không gian (TDKG) thông qua phương pháp mô phỏng (PPMP) trong dạy học Địa lí được tập trung nghiên cứu. Tài liệu được tổng hợp để khẳng định cơ sở phát triển TDKG thông qua mô phỏng và khảo sát, phỏng vấn nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng PPMP để phát triển TDKG. Kết quả cho thấy TDKG là năng lực đặc thù Địa lí, đóng vai trò quan trọng trong học tập Địa lí và PPMP có nhiều tiềm năng để phát triển TDKG. Quy trình và xây dựng các biện pháp sử dụng PPMP để phát triển TDKG hiệu quả được đề xuất. Việc tạo nền tảng lí luận và thực tiễn vững chắc là cần thiết để người dạy sử dụng PPMP một cách hiệu quả trong dạy học Địa lí phát triển tư duy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018).

Hoạt động học tập của lưu học sinh ở Trường Cao Đẳng An ninh nhân dân I, Bộ Công an

Phạm Thị Thúy Hằng, Phạm Hồng Quân
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng hoạt động học tập (HĐHT) của lưu học sinh (LHS) tại Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I, Bộ Công an. Trong nghiên cứu, HĐHT được tiếp cận theo cấu trúc gồm các thành tố: nhận thức về tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, điều kiện tổ chức và kiểm tra – đánh giá kết quả. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu được áp dụng trên mẫu gồm 55 cán bộ quản lý, 80 giảng viên và 250 LHS. Kết quả cho thấy, HĐHT của LHS được thực hiện ở mức độ “thường xuyên” và đạt hiệu quả “khá” trên tất cả các thành tố khảo sát. Tuy nhiên, điểm trung bình hiệu quả ở mỗi thành tố đều thấp hơn so với điểm trung bình mức độ thực hiện, phản ánh khoảng cách giữa triển khai và kết quả đạt được. Các thành tố như kiểm tra – đánh giá và phương pháp học tập còn nhiều hạn chế, cần cải thiện. Trên cơ sở đó, các khuyến nghị đã được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng HĐHT của LHS thông qua việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả và phù hợp với đặc thù LHS  đối với từng thành tố cấu trúc HĐHT trong nhà trường.

Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phần giáo dục quốc phòng và an ninh tại Đại học Cần Thơ

Ngô Nhã Lam Duy, Nguyễn Nhật Trường, Cao Ngọc Báu
Tóm tắt | PDF
Việc nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQPAN) tại Đại học Cần Thơ hiện nay là cần thiết vì đây là nhóm học phần bắt buộc cho tất cả sinh viên bậc đại học, trong đó công nghệ thông tin (CNTT) được ứng dụng trong dạy học là một giải pháp được chú trọng. Để đánh giá đúng thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học học phần GDQPAN, từ đó tìm ra giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học, trong đó 30 giảng viên giảng dạy và 309 sinh viên đang học tập tại Trung tâm GDQPAN, Đại học Cần Thơ đã được khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn 11 giảng viên. Kết quả cho thấy thực trạng hạn chế trong ứng dụng CNTT trong dạy học học phần GDQPAN có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó nội dung và phương pháp ứng dụng trong giảng dạy của giảng viên (GV) là nhân tố quan trọng. Từ thực trạng đó, một số giải pháp đã được đề xuất như cần phải đổi mới, ứng dụng CNTT trong dạy học học phần GDQPAN.

Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng thành phố Cần Thơ

Nguyễn Ánh Minh, Nguyễn Lê Mẫn, Vũ Thị Thuỳ Dung, Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Hải Minh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động kinh doanh du lịch tại chợ nổi Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 203 du khách, bộ tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định T-Test và kiểm định phương sai. Kết quả có ba nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với các hoạt động du lịch bao gồm: yếu tố hấp dẫn, chất lượng dịch vụ và môi trường. Đáng chú ý, mức độ hài lòng thay đổi sau trải nghiệm ảnh hưởng tích cực đến ý định quay lại và giới thiệu điểm đến của du khách. Ngoài ra, kết quả cho thấy không có sự khác biệt ở mức độ hài lòng của đặc điểm nhân khẩu học. Trong nghiên cứu, một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách góp phần phát triển du lịch chợ nổi Cái Răng bền vững cũng đã được đề ra.

Thực hành hoạt động xanh đến hiệu suất môi trường ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết chính sách, sản phẩm, nhân viên

Nguyễn Thanh Vinh, Trần Thị Lệ Hiền, Đinh Thị Quỳnh Anh, Lê Hoàng Như Quỳnh, Đỗ Ngọc Tuyết Hương
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của thực hành hoạt động xanh của nhân viên đến hiệu suất môi trường tại các ngân hàng thương mại ở thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tuyến từ 375 nhân viên chuyên trách ngân hàng xanh tại 16 ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2024, dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất môi trường gồm: hoạt động chính sách ngân hàng (0,313), thực hành hoạt động nhân viên (0,312) và phát triển sản phẩm xanh (0,292). Vai trò điều tiết quan trọng của ba yếu tố này trong việc nâng cao hiệu suất bảo vệ môi trường được xác định trong nghiên cứu. Cụ thể, việc thực hành tại cơ sở và hoạt động khách hàng tác động trực tiếp đến thực hành hoạt động nhân viên, phát triển sản phẩm xanh và chính sách ngân hàng; từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất môi trường. Kết quả là bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa thực hành hoạt động xanh và hiệu suất môi trường, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển ngân hàng xanh.

Nghiên cứu tác động của marketing kể chuyện thương hiệu đến tài sản thương hiệu ô tô qua điều tiết của tính cách thương hiệu

Nguyễn Thị Thanh Vân, Trịnh Hoàng Nam, Lê Thị Ánh Tuyết
Tóm tắt | PDF
Ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng là thị trường đầy tính cạnh tranh. Để thu hút khách hàng và định vị tốt thương hiệu, các hãng xe nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp marketing truyền thông khác nhau bao gồm những phương thức tiếp thị kỹ thuật số hiện đại hay xây dựng các nội dung quảng bá hấp dẫn và sáng tạo, trong đó có marketing kể chuyện thương hiệu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét mối quan hệ tác động của marketing kể chuyện thương hiệu đối với tài sản thương hiệu ô tô dựa trên cảm nhận của người tiêu dùng qua vai trò điều tiết quan trọng của nhân tố tính cách thương hiệu. Với dữ liệu được thu thập từ 256 phản hồi hữu ích của những cá nhân đã từng mua xe ô tô có tham gia trên nền tảng truyền thông xã hội và được xử lý qua phần mềm SmartPLS, kết quả cho thấy marketing kể chuyện thương hiệu có tác động cùng chiều đến tài sản thương hiệu ô tô qua tác động điều tiết tích cực của tính cách thương hiệu. Trên cơ sở đó, một số hàm ý quản trị tương ứng đã được đề xuất trong nghiên cứu.