Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Khoa học Tự nhiên, Công nghệ và Môi trường, Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học, Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Kinh tế và Luật, ISSN 1859-2333, e-ISSN 2815-5599,  ctujos@ctu.edu.vn, GS. Trần Ngọc Hải

Khung điểm Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ năm 2025

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của 28 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành năm 2025. Theo đó, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ (https://ctujsvn.ctu.edu.vn/) được phê duyệt trong danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của 20 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành năm 2025. Trong đó, Tạp chí được 1 Hội đồng công nhận mới và 2 Hội đồng nâng điểm.

Tập. 62 Số. CĐ Khoa học tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long (2026)

Ngày xuất bản: 21-08-2026

Ứng dụng phân phối hỗn hợp Dirichlet phân cụm các dạng ngày bức xạ mặt trời

Trần Văn Lý, Nguyễn Thị Hồng Dân, Trương Thành An, Vương Thị Mỹ Tiên, Lê Đại Nghiệp
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm khảo sát khả năng áp dụng mô hình phân phối hỗn hợp Dirichlet kết hợp với thuật toán xấp xỉ ngẫu nhiên cực đại hóa kỳ vọng (mixD-SAEM) để phân loại các dạng ngày bức xạ mặt trời dựa trên phân phối của chỉ số sáng. Hiệu quả của phương pháp được đánh giá thông qua so sánh với hai phương pháp phân cụm phổ biến là k-means và phân cụm thứ bậc. Thực nghiệm được thực hiện trên hai nhóm dữ liệu gồm bộ dữ liệu bức xạ mặt trời có tần suất lấy mẫu cao được sử dụng trong nghiên cứu trước đây và các bộ dữ liệu bức xạ mặt trời ghi nhận tại hai trạm khí tượng ở Đồng bằng sông Cửu Long với chỉ 9 quan sát mỗi ngày. Đối với trường hợp dữ liệu thưa, các histogram phục vụ phân loại được xây dựng từ các hàm mật độ xác suất ước lượng bằng phương pháp hàm hạt nhân. Kết quả đánh giá thông qua các chỉ số Silhouette và Davies–Bouldin cho thấy phương pháp mixD-SAEM có khả năng nhận dạng tốt các dạng ngày bức xạ mặt trời, đặc biệt trên các dữ liệu mà đặc trưng phân biệt chủ yếu nằm ở hình dạng phân phối.

Sự thay đổi chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan sau phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng bằng bài tập McKenzie ở bệnh nhân đau lưng mạn tính

Lê Nguyễn Trí Nhân, Phan Đức Bằng, Võ Duy Nhàn, Ngô Văn Tán, Lê Trọng Tài
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định sự thay đổi chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan sau phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng bằng bài tập McKenzie ở bệnh nhân đau lưng mạn tính. Phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng đã được áp dụng; việc theo dõi dọc được tiến hành trên 87 bệnh nhân tại ba thời điểm: trước can thiệp, sau 1 tháng và sau 3 tháng. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng EQ-5D-5L. Mô hình hồi quy tuyến tính hỗn hợp được sử dụng để phân tích dữ liệu. So với trước can thiệp, điểm EQ-5D-5L tăng trung bình 0,047 điểm sau 1 tháng và 0,211 điểm sau 3 tháng (p < 0,001). Trong mô hình hỗn hợp đa biến cuối cùng, điểm VAS cao hơn liên quan với điểm EQ-5D-5L thấp hơn (β = -0,0292; p < 0,001); trong khi đó, việc tuân thủ tập luyện liên quan với điểm EQ-5D-5L cao hơn (β = 0,1181; p

Phân lập vi khuẩn có khả năng tổng hợp protease từ da mặt người

Ngô Thị Thu Ngân, Nguyễn Như Biết, Lê Thị Yến Nhi, Nguyễn Thị Thanh Thanh, Lê Thị Cẩm Vân, Nguyễn Thị Huỳnh Như, Lưu Phúc Lợi, Lê Uyển Thanh, Huỳnh Ngọc Tâm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn sinh protease từ bã nhờn da mặt người khỏe mạnh. Từ 30 mẫu thu tại vùng trán, má và cằm, 260 dòng vi khuẩn đã được phân lập. Hoạt tính protease được khảo sát trên môi trường Casein agar và Skim milk agar trong 72 giờ nuôi cấy. Kết quả ghi nhận 21 dòng có khả năng phân giải protein, trong đó dòng M7 thể hiện hoạt tính cao nhất với đường kính vòng phân giải đạt 40,67 mm trên Casein agar và 37,33 mm trên Skim milk agar. Trong số các dòng có hoạt tính protease, 8 dòng biểu hiện hoạt tính lipase và 6 dòng biểu hiện hoạt tính amylase. Kết quả định danh phân tử bằng 16S rDNA cho thấy dòng M7 thuộc chi Bacillus và có quan hệ di truyền gần với Bacillus albus, Bacillus paramycoides và các thành viên thuộc Bacillus cereus group. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đã giúp tuyển chọn được dòng M7 có hoạt tính protease nổi bật và cho thấy hệ vi sinh vật da mặt người là nguồn tiềm năng để khai thác các vi khuẩn sinh enzyme ngoại bào.

Tuyển chọn và định danh dòng nấm hòa tan lân chịu mặn từ đất vùng rễ cây lúa hoang (Oryza rufipogon)

Dương Hoàng Yến Nhi, Cao Mẫn Quân, Võ Thị Ngọc Thơ, Nguyễn Thị Pha, Đỗ Tấn Khang, Trương Thị Bích Vân, Bùi Thanh Liêm, Nguyễn Phạm Anh Thi, Nguyễn Chánh Tín, Trần Thị Giang
Tóm tắt | PDF
Lân là nguyên tố thiết yếu tham gia vào nhiều quá trình sinh lý và sinh hóa của cây trồng, nhưng phần lớn lân trong đất tồn tại ở dạng cố định. Kết quả nghiên cứu này đã phân lập được 31 dòng nấm hòa tan lân từ đất vùng rễ cây lúa hoang (Oryza rufipogon) tại thành phố Cần Thơ. Định tính khả năng hòa tan lân với chỉ số PSI dao động từ 1,04 đến 1,93. Qua kết quả định lượng lân hòa tan, dòng nấm OM9.2 thể hiện khả năng hòa tan lân mạnh nhất, đạt 1.041,36 mg/L sau ngày thứ 10. Việc định danh phân tử vùng ITS cho thấy dòng nấm OM9.2 có mối quan hệ gần nhất với chi Talaromyces trên cơ sở dữ liệu NCBI. Bên cạnh đó, dòng nấm OM9.2 có khả năng chịu mặn đến nồng độ muối NaCl 6‰. Đồng thời, khả năng hòa tan lân của dòng nấm đạt giá trị cao nhất ở nồng độ muối NaCl 2‰, với hàm lượng lân hòa tan trên 1.300 mg/L sau 15 ngày nuôi cấy.

Tối ưu hóa quá trình trích ly polyphenol tổng và đánh giá khả năng kháng oxy hóa của cao chiết lá cây diếp cá (Houttuynia cordata Thunb.)

Lê Thị Bạch, Nguyễn Nhã Uyên, Trần Trung Hưng, Phạm Quốc Nhiên, Phạm Thị Kim Phượng
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu tập trung tối ưu hóa quá trình trích ly polyphenol tổng từ lá diếp cá (Houttuynia cordata Thunb.) và đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết thu được. Các thông số ảnh hưởng đến hiệu quả trích ly được khảo sát và tối ưu bằng phương pháp bề mặt đáp ứng (Response Surface Methodology, RSM) kết hợp với thiết kế Box-Behnken. Điều kiện trích ly tối ưu được xác định là ethanol 89,66%, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu 53,50 mL/g, nhiệt độ 54,62ºC và thời gian 4,39 giờ. Hàm lượng polyphenol tổng (TPC) dự đoán đạt 119,807 mg GAE/g cao chiết, trong khi giá trị thực nghiệm đạt 118,373 ± 0,250 mg GAE/g cao chiết. Cao chiết tối ưu có hoạt tính kháng oxy hóa với giá trị IC50 theo phương pháp DPPH và ABTS•+lần lượt là 113,73 ± 0,37 và 21,39 ± 0,11 µg/mL. Kết quả khẳng định độ tin cậy của mô hình tối ưu và tiềm năng ứng dụng trong khai thác polyphenol từ lá diếp cá.

Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và ảnh hưởng lên vi khuẩn có lợi trong đường tiêu hóa của cao chiết lá sa kê (Artocarpus altilis (Park) Forb.)

Huỳnh Thanh Duy, Trần Lê Việt Hà, Nguyễn Thị Hồng Hiểu, Tô Lý Cường, Chung Thị Mỹ Duyên, Trương Minh Nhựt, Lê Kiều An, Trần Nguyễn Minh Duy
Tóm tắt | PDF
Sa kê (Artocarpus altilis, Moraceae) được ghi nhận có tiềm năng kháng khuẩn và bảo vệ niêm mạc tiêu hóa. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thành phần hóa học, độc tính tế bào và hoạt tính kháng khuẩn trên đường tiêu hóa của cao chiết ethanol 96% và cao nước từ lá vàng sa kê đã rụng. Kết quả cho thấy cả hai cao chiết đều chứa các nhóm hợp chất khảo sát. Các cao chiết không ghi nhận độc tính trên tế bào L929 (tỉ lệ sống trên 85% sau 48 giờ). Cao ethanol có khả năng ức chế Helicobacter pylori (vòng kháng khuẩn đạt 20,1 - 27,3 mm), trong khi cao nước không có tác dụng. Không quan sát thấy vòng vô khuẩn đối với vi khuẩn Salmonella typhimurium và Vibrio parahaemolyticus. Đồng thời, các cao chiết không ảnh hưởng đến Bacillus clausii và Lactobacillus acidophilus. Giá trị MIC ghi nhận ở cao ethanol là 50 mg/mL ở H. pylori và V. parahaemolyticus, 100 mg/mL ở S. typhimurium. Kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng hỗ trợ kiểm soát H. pylori và không ghi nhận độc tế bào của cao chiết ethanol lá sa kê.

Tổng hợp xanh Zr-MOF-NH2 định hướng ứng dụng phân phối thuốc trừ sâu ổn định cho phòng trừ rầy nâu trên lúa

Nguyễn Phương Duy, Lê Thị Ngọc Yến, Nguyễn Lê Thiên Lý, Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phát triển vật liệu khung cơ–kim Zr-MOF-NH2 thông qua quy trình tổng hợp xanh trong môi trường nước ở nhiệt độ phòng, loại bỏ dung môi độc hại và tiết kiệm năng lượng. Vật liệu thu được có độ kết tinh cao, bền nhiệt, diện tích bề mặt Brunauer–Emmett–Teller (BET) đạt 945 m2/g với cấu trúc xốp phân cấp (micropore và mesopore). Thiamethoxam là loại thuốc kiểm soát rầy nâu phổ biến, được sử dụng làm chất hấp phụ để đánh giá hiệu suất. Kết quả cho thấy dung lượng hấp phụ cực đại đạt khoảng 103 mg/g ở 30°C, trong dung môi nước với thời gian tiếp xúc là 150 phút. Quá trình hấp phụ tuân theo mô hình động học khuếch tán qua cấu trúc lỗ xốp và cân bằng Freundlich (R2 = 0,993), phản ánh sự hấp phụ đa lớp trên bề mặt dị thể. Tương tác chủ đạo được xác định là liên kết hydrogen giữa nhóm –NH2 của khung MOF và nhóm -NO2 của phân tử thuốc. Kết quả cho thấy Zr-MOF-NH2 là vật liệu tiềm năng hướng tới canh tác lúa bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường thứ cấp.

Đặc tính enzyme, kháng kháng sinh và hình thành màng sinh học của Aeromonas spp. phân lập từ cá chép (Cyprinus sp.) tại trại giống

Võ Thu Hương, Huỳnh Anh, Trần Thị Ngọc Ánh, Phạm Yến Nhi, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm, Trần Hữu Hậu
Tóm tắt | PDF
Vi khuẩn Aeromonas được biết đến là một trong những tác nhân gây bệnh phổ biến ở cá nước ngọt. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập các dòng Aeromonas và đánh giá một số đặc điểm liên quan đến độc lực, bao gồm khả năng sản xuất enzyme ngoại bào, hoạt tính tan huyết và mức độ nhạy cảm với kháng sinh. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 dòng vi khuẩn thuộc chi Aeromonas. Tất cả các dòng đều có khả năng phân giải protein, gelatin và hình thành màng sinh học, 4/5 dòng có khả năng phân giải lipid và gây tan huyết. Các dòng vi khuẩn kháng ít nhất 4/16 loại kháng sinh khảo sát; trong đó, dòng CFH17db.2 có mức độ đa kháng cao nhất với 10/16 loại kháng sinh (MAR = 0,63). Các dòng vi khuẩn kháng lại hai nhóm kháng sinh aminoglycosides và carbapenems. Tỷ lệ kháng cao được ghi nhận đối với imipenem, meropenem, amikacin, gentamicin và piperacillin/tazobactam, trong khi đa số dòng vi khuẩn vẫn còn nhạy cảm với cefepime, cefotaxime, ceftazidime, tetracycline. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy các dòng Aeromonas phân lập từ cá chép bệnh mang nhiều đặc tính liên quan đến đa kháng kháng sinh, tiềm ẩn nguy cơ đối với nuôi trồng thủy sản.

Khảo sát hàm lượng polyphenol, flavonoid, hoạt tính chống oxy hóa và khả năng ức chế α-glucosidase của trà Longi (Camellia longii Orel & Luu)

Huỳnh Thanh Duy, Nguyễn Thành Triết, Hoàng Lê Minh, Lâm Tuấn Kiệt, Trần Lê Trung Nhân, Trần Văn Chện
Tóm tắt | PDF
Trà Longi (Camellia longii) là loài thực vật đặc hữu của Việt Nam nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ về tiềm năng sinh học. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hàm lượng polyphenol (TPC), flavonoid toàn phần (TFC), hoạt tính chống oxy hóa và khả năng ức chế α-glucosidase của các cao chiết từ lá và hoa của Trà Longi. Kết quả cho thấy TPC dao động từ 324,89 ± 6,74 đến 482,00 ± 8,82 mg GAE/g cao chiết, trong khi TFC đạt 42,31 ± 0,68 đến 48,07 ± 1,80 mg QE/g cao chiết. Các cao chiết thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh, với giá trị IC50 trong thử nghiệm DPPH từ 13,20 ± 0,35 đến 17,91 ± 0,22 µg/mL và trong thử nghiệm ABTS từ 54,12 ± 0,77 đến 60,80 ± 1,74 µg/mL. Đồng thời, các cao chiết cũng ức chế mạnh α-glucosidase (IC₅₀ = 29,80 ± 0,15–37,99 ± 0,24 µg/mL). Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học ban đầu cho việc khai thác Trà Longi như một nguồn nguyên liệu tiềm năng trong phát triển các sản phẩm hỗ trợ chống oxy hóa và kiểm soát glucose huyết.

Quy trình xử lý và khôi phục dữ liệu thực nghiệm nhiệt dung zeolite với sự hỗ trợ của mô hình ngôn ngữ lớn

Trần Thái Bảo, Lê Thị Thuý My, Mai Ngọc Qúi, Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Tiên
Tóm tắt | PDF
Dữ liệu thực nghiệm về vật liệu thường chứa các giá trị thiếu và giá trị sai lệch, gây ảnh hưởng đến độ tin cậy của các phân tích thống kê và khả năng bảo toàn ý nghĩa vật lý của dữ liệu. Hiện nay, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào khả năng khôi phục dữ liệu mà chưa đánh giá đầy đủ mức độ duy trì các mối quan hệ vật lý sau xử lý. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất một quy trình xử lý dữ liệu nhiệt dung zeolite dựa trên mô hình ngôn ngữ lớn trong các bước kiểm tra dữ liệu, phát hiện dữ liệu lỗi, hỗ trợ sinh mã xử lý và trực quan hóa kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy nội suy là phương pháp phù hợp đối với dữ liệu nhiệt dung zeolite, đáp ứng đồng thời việc khôi phục dữ liệu và bảo toàn các đặc trưng vật lý của hệ. Kết quả cũng minh chứng tiềm năng của mô hình ngôn ngữ lớn như một tác nhân hỗ trợ hiệu quả trong quy trình xử lý và phân tích dữ liệu thực nghiệm vật liệu theo hướng bán tự động và có khả năng tái lập.

Cải biến di truyền Yarrowia lipolytica trong tăng cường sản xuất gamma-glutamyl cysteine

Đặng Bảo Ngọc, Lê Thị Bé Ba, Châu Thị Thúy Hằng, Đỗ Thị Hoàng Diễm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thiết kế chủng nấm men Yarrowia lipolytica có khả năng tích lũy cao dipeptide gamma-glutamylcysteine (γ-GC). Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc xóa bỏ gene ylGSH2 mã hóa enzyme glutathione synthetase để chặn con đường tổng hợp glutathione, kết hợp với việc biểu hiện quá mức gene ylGSH1 (một hoặc hai bản sao) dưới sự kiểm soát của promoter mạnh pTEF. Các phương pháp phân tích hiện đại như NMR và LC-QTOF/MS đã được sử dụng để xác nhận sự hiện diện của γ-GC thay cho glutathione. Kết quả cho thấy các chủng đột biến (RIY455 và RIY445) ghi nhận hàm lượng thiol nội bào khoảng 102 nmol/mg protein; sự hiện diện của γ-GC được xác nhận bằng NMR và LC-QTOF/MS. Việc bổ sung cysteine và glutamate vào môi trường giúp nâng hiệu suất lên tối đa 239,9 nmol/mg protein (tăng 177%). Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy đối với Y. lipolytica, việc bất hoạt gene ylGSH2 mã hóa enzyme glutathione synthetase và biểu hiện quá mức gene ylGSH1 (một hoặc hai bản sao) làm tăng tích lũy γ-GC nội bào. Ý nghĩa của nghiên cứu giúp mở ra hướng sản xuất γ-GC bằng công nghệ sinh học hiệu quả, phục vụ cho các ứng dụng y dược và thực phẩm chức năng.

Đánh giá sơ bộ hiện trạng phân bố của loài nai (Rusa unicolor) tại vườn quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau

Trần Quốc Khải, Ngô Khang Duy, Huỳnh Kiệt Anh Tuấn, Nguyễn Hoài Linh, Dương Văn Nhã, Ngô Minh Sang, Nguyễn Tấn Truyền
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, việc đánh giá sơ bộ hiện trạng phân bố của loài Nai (Rusa unicolor) tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau được thực hiện bằng 03 phương pháp điều tra chính: (1) đặt bẫy ảnh mục tiêu, (2) quan sát trực tiếp và (3) đi bộ soi đêm. Kết quả cho thấy quần thể nai (R. unicolor) vẫn còn hiện diện tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ với số lượng có thể lên đến 700 cá thể, phân bố chủ yếu tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Các dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu là cơ sở quan trọng để theo dõi biến động quần thể và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài nai (R. unicolor) tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ trong thời gian tới.

Tổng hợp, phân tích tính chất và đánh giá hiệu quả loại bỏ methylene blue trong nước của vật liệu composite hấp phụ từ than hoạt tính có nguồn gốc bã cà phê

Phan Tuấn Kiệt, Huỳnh Hữu Khang, Lê Thành Phú, Ngô Trương Ngọc Mai, Đặng Huỳnh Giao, Lương Huỳnh Vủ Thanh
Tóm tắt | PDF
Vật liệu composite than hoạt tính/Chitosan/PVA/UPE (ACPU) được tổng hợp từ than hoạt tính từ bã cà phê, chitosan, PVA và nhựa polyester không bão hòa, với glutaraldehyde làm chất liên kết ngang. Kết quả phân tích xác nhận sự hình thành liên kết Schiff base C=N và cấu trúc vật liệu ổn định. Vật liệu có cấu trúc mao quản trung bình với đường kính lỗ 18,207 Å và diện tích bề mặt 16,521 m2/g. Ảnh SEM cho thấy bề mặt thô, không đồng nhất, thuận lợi cho hấp phụ. Khả năng hấp phụ methylene blue tối ưu tại pH 8 với dung lượng cực đại 149,57 mg/g ở nồng độ 40 mg/L. Động học phù hợp mô hình giả bậc hai, đẳng nhiệt tuân theo Freundlich và Dubinin Radushkevich, cho thấy cơ chế hấp phụ vật lý đa lớp. Quá trình hấp phụ diễn ra tự phát và tỏa nhiệt đã chứng minh tiềm năng ứng dụng của vật liệu trong xử lý nước thải chứa thuốc nhuộm.

Khảo sát thành phần hóa học và đánh giá hoạt tính sinh học của cao chiết cây lan tỏi (Mansoa alliacea)

Huỳnh Thị Trúc Mai, Lâm Bùi Minh Thư, Phạm Võ Gia Băng, Nguyễn La Diễm My, Lê Xuân Siêu, Mai Thị Diễm Trang, Nguyễn Trần Thảo Quyên, Đỗ Tấn Khang, Trần Thanh Mến
Tóm tắt | PDF
Lan tỏi (Mansoa alliacea) là loài thực vật thuộc họ Quao (Bignoniaceae), có tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược liệu nhờ chứa nhiều hợp chất sinh học có hoạt tính cao. Tuy nhiên, việc thực hiện các nghiên cứu về loài cây này ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định thành phần hóa học, khảo sát các hoạt tính sinh học của cao chiết ethanol từ lá và thân lan tỏi. Kết quả định tính cho thấy cao chiết từ lá và thân chứa nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học như alkaloid, flavonoid, saponin, phenolic,... Trong đó, cao chiết thân cho thấy hàm lượng flavonoid (224,0±3,00 mg QE/g cao chiết) cao hơn đáng kể so với cao chiết lá. Về hoạt tính sinh học, cao chiết lá lan tỏi cho thấy hoạt tính kháng oxy hóa với hai phương pháp (ABTS, DPPH), kháng viêm, kháng tia UV-B và kháng khuẩn mạnh mẽ hơn cao chiết thân. Ngược lại, cao chiết thân lan tỏi lại thể hiện khả năng kháng oxy hóa tổng và năng lực khử sắt, ức chế enzyme α-amylase mạnh mẽ hơn.

Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây bắp rau (Zea mays L.)

Võ Thị Phượng, Nguyễn Phước Thành, Phạm Thị Thanh Mai, Lê Thị Kim Ngân
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây bắp rau (Zea mays L.); từ đó, công thức giá thể phù hợp cho sản xuất được xác định. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức giá thể gồm: đất thịt, phân bò hoai mục kết hợp đất thịt, phân rơm hoai mục kết hợp đất thịt, xơ dừa kết hợp đất thịt và hỗn hợp các loại giá thể. Kết quả cho thấy các loại giá thể có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây bắp rau. Giá thể gồm 50% phân bò hoai mục và 50% đất thịt mang lại hiệu quả cao hơn đáng kể ở hầu hết các chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng tích lũy sinh khối và năng suất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn giá thể phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất bắp rau theo hướng bền vững và tận dụng nguồn vật liệu hữu cơ sẵn có trong nông nghiệp.

Phân tích và dự báo lượng mưa tại Đà Lạt với các mô hình thống kê và mô hình lai học sâu

Văn Thị Huỳnh Như, Thân Thị Hương Mai, Ôn Bích Gia Hân, Trần Phước Lộc
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, chuỗi số liệu lượng mưa trung bình tháng tại trạm khí tượng Đà Lạt trong giai đoạn 01/2002–12/2024 đã được sử dụng nhằm đánh giá và dự báo xu thế biến động lượng mưa. Mười giá trị thiếu (3,62%) được xử lý bằng nội suy tuyến tính sau khi kiểm tra cơ chế thiếu dữ liệu. Bảy mô hình dự báo được xem xét, gồm bốn mô hình đơn lẻ (Holt–Winters, SARIMA, Prophet và LSTM) và ba mô hình lai kết hợp với LSTM trên phần dư (SARIMA+LSTM, HW+LSTM và Prophet+LSTM). Mô hình LSTM được cải tiến thông qua kỹ thuật ensemble với hai hạt giống ngẫu nhiên, bổ sung đặc trưng mùa vụ dạng sin/cos và cửa sổ trễ 24 tháng. Kết quả cho thấy Prophet+LSTM đạt sai số MAE thấp nhất (61,84 mm) trong các mô hình khảo sát, đồng thời phần dư thỏa mãn các giả định về nhiễu trắng và phân phối chuẩn. Kết quả dự báo từ các mô hình nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý tài nguyên nước và giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại khu vực cao nguyên Lâm Viên.

Đặc điểm hình thái loài ong Psyttalia mangiferae Long & Oanh (Braconidae: Hymenoptera) và tỷ lệ ký sinh của chúng trên vật chủ ruồi đục trái Bactrocera spp. (Diptera: Tephritidae) gây hại ổi Đài Loan tại xã Mỹ Thọ, tỉnh Đồng Tháp

Nguyễn Cẩm Đào, Nguyễn Thị Oanh
Tóm tắt | PDF
Ong Psyttalia mangiferae Long & Oanh được ghi nhận ký sinh ruồi đục trái Bactrocera spp. gây hại trái ổi Đài Loan tại tỉnh Đồng Tháp. Cơ thể ong có màu vàng tươi, ngoại trừ ở ong đực phần gốc của các đốt bụng 2, 3 và 4 có màu vàng nâu. Trên vật chủ ruồi đục trái, ong cái có chiều dài trung bình 4,36 ± 0,29 mm, ong đực là 3,99 ± 0,58 mm. Ong ký sinh thường xuất hiện chậm hơn ruồi trưởng thành Bactrocera spp. khoảng 7 - 10 ngày. Vào dịp từ tháng 1 đến tháng 7, mật độ ruồi xuất hiện nhiều, trung bình từ 98 đến 131 con/1 kg trái ổi; đồng thời, ong ký sinh xuất hiện đã được ghi nhận và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 3 là 49,8% số trái. Từ tháng 8 đến tháng 10, mật độ ruồi giảm còn 26 - 64 con/1 kg trái ổi, cũng là giai đoạn không bắt gặp ong ký sinh. Nhiệt độ nhìn chung không ảnh hưởng tới sự xuất hiện của ong ký sinh, trong khi lượng mưa có phần ảnh hưởng.

Tổng hợp và khảo sát tính chất quang của bột huỳnh quang LaAlO₃ đồng pha tạp Mn⁴⁺ và Na⁺

Nguyễn Minh Thuận, Nguyễn Thị Thúy An, Lê Trần Ngọc Trâm, Trương Thị Bạch Yến, Nguyễn Thị Kim Chi
Tóm tắt | PDF
Bột huỳnh quang LaAlO3 đồng pha tạp Mn4+ và Na+ được tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa. Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X cho thấy độ kết tinh của vật liệu LaAlO₃ nghiên cứu được cải thiện khi tăng nhiệt độ nung đến 1.200℃. Kết quả phân tích quang phổ huỳnh quang được ghi nhận phổ phát xạ tại bước sóng kích thích là 410 nm ứng với phát xạ đỏ đặc trưng của ion Mn⁴⁺ trong vùng phổ rộng từ 660 nm đến 750 nm. Nồng độ pha tạp tối ưu là 0,3% mol Mn⁴⁺ và 0,5% mol Na+. Sự có mặt của Na⁺ trong mạng nền LaAlO3 đóng vai trò bù điện tích, góp phần ổn định cấu trúc và nâng cao hiệu suất phát quang lên 38% so với đơn pha tạp Mn4+.

Hoạt tính kháng nấm của các chủng Bacillus phân lập từ vùng rễ đậu nành (Glycine max (l.) Merrill) với Aspergillus flavus, Aspergillus tubingensis và Fusarium falciforme

Nguyễn Thị Liên, Huỳnh Phương Thuỳ Linh, Trương Lê Trung Nhân, Nguyễn Tăng Phú
Tóm tắt | PDF
Năng suất và chất lượng hạt đậu nành (Glycine max L.) thường bị suy giảm do sự tấn công của các nấm bệnh. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng nấm của bốn chủng vi khuẩn Bacillus velezensis AG8.2, Bacillus thuringiensis AG9.2, Bacillus siamensis AG11.2 và Bacillus subtilis AG16.2 đối với Aspergillus tubingensis, Aspergillus flavus và Fusarium falciforme. Trong thử nghiệm đồng nuôi cấy, tỷ lệ ức chế sự phát triển sợi nấm dao động lần lượt từ 6,15 đến 54,3% đối với A. tubingensis, từ 0 đến 34,2% đối với A. flavus và từ 21,2 đến 51,8% đối với F. falciforme. Dịch nổi vô bào của các chủng khảo sát có khả năng ức chế cả sự phát triển sợi nấm và sự nảy mầm bào tử, đặc biệt trên giai đoạn nảy mầm của bào tử. Bên cạnh đó, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi cũng thể hiện hoạt tính kháng nấm đáng kể, với hiệu quả cao hơn trên F. falciforme. Các chủng Bacillus thử nghiệm cho thấy tiềm năng phát triển chế phẩm sinh học nhằm quản lý bền vững các bệnh hại trên cây đậu nành.

Thành phần hóa học và tiềm năng ứng dụng của hai loài tảo nâu Padina boryana và Padina australis trong hỗ trợ điều trị đái tháo đường và ung thư

Nguyễn Duy Tuấn, Nguyễn Cường Quốc, Lê Đăng Quang, Trần Duy Khang, Trần Thanh Mến, Trần Quang Đệ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm xác định thành phần hóa học và đánh giá một số hoạt tính sinh học của hai loài tảo nâu Padina boryana (P. boryana) và Padina australis (P. australis). Phân tích GC–MS (gas chromatography–mass spectrometry) ghi nhận 24 hợp chất ở P. boryana và 20 hợp chất ở P. australis. Trong đó, pentadecane là thành phần chính của P. boryana với hàm lượng 14,52%, còn ethyl oleate chiếm ưu thế ở P. australis, đạt 67,09%. Kết quả thử nghiệm ức chế enzyme α-glucosidase cho thấy phân đoạn petroleum ether (PE) của P. australis có hoạt tính mạnh nhất, với IC₅₀ đạt 0,175±0,008 µg/mL. Hoạt tính gây độc tế bào cũng được khảo sát trên hai dòng ung thư gan HepG2 và ung thư vú MCF-7. Đối với P. boryana, phân đoạn PE có IC₅₀ lần lượt là 156,20±7,94 µg/mL trên HepG2 và 163,56±5,03 µg/mL trên MCF-7. Phân đoạn PE của P. australis thể hiện tác dụng mạnh hơn, với IC₅₀ tương ứng là 111,02±5,54 và 60,73±1,54 µg/mL. Kết quả cung cấp dữ liệu ban đầu, làm cơ sở cho việc phân lập và nghiên cứu sâu hơn các hợp chất có hoạt tính sinh học từ hai loài tảo này.

Điều kiện tối ưu cho bài toán tối ưu điều khiển mờ nhiều biến phụ thuộc sử dụng đạo hàm granular

Lê Thanh Tùng, Trần Thiện Khải, Phạm Lê Bạch Ngọc, Trịnh Tùng
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu về các điều kiện tối ưu cần và đủ cho bài toán tối ưu điều khiển mờ với nhiều biến phụ thuộc sử dụng đạo hàm granular. Trước tiên, điều kiện cần tối ưu dùng cách tiếp cận đạo hàm theo hướng được khảo sát. Tiếp theo, điều kiện đủ tối ưu được thiết lập bằng cách sử dụng các giả thiết lồi. Tính thiết yếu của điều kiện đủ, ít được khảo sát trong các bài báo về tối ưu điều khiển mờ trước đây, được minh họa thông qua một ví dụ chi tiết. Cuối cùng, một mô hình ứng dụng cho bài toán điều khiển mờ theo sát quỹ đạo được trình bày.

Khảo sát sự hấp phụ của phân tử carbon monoxide trên bề mặt hợp kim ruthenium-cobalt bằng lý thuyết phiếm hàm mật độ

Đặng Long Quân, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Thị Mỹ Lam, Lê Hoàng Anh Quốc Thảo Nhi, Lê Thị Hồng Đào, Nguyễn Hải Đăng
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, lý thuyết phiếm hàm mật độ được sử dụng để khảo sát sự hấp phụ của phân tử carbon monoxide (CO) trên bề mặt hợp kim ruthenium-cobalt (RuCo). Các mẫu hấp phụ được tạo bởi phần mềm VESTA. Phần mềm VASP được sử dụng để tối ưu hóa cấu trúc và tính toán năng lượng. Bên cạnh đó, khoảng cách hấp phụ và tương tác điện tử giữa phân tử CO với đế cũng được xác định. Kết quả tìm ra được vị trí mà CO hấp phụ tốt nhất trên bề mặt RuCo. Nghiên cứu này góp phần vào việc hoàn thiện bức tranh tổng thể về sự hấp phụ của khí CO lên bề mặt các chất xúc tác có tiềm năng ứng dụng vào pin nhiên liệu methanol.

Điều kiện hội tụ Painlevé–Kuratowski cho tập nghiệm hữu hiệu trong mô hình điều chỉnh đường huyết

Nguyễn Huy Hoàng, Võ Thành Tài
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu điều kiện hội tụ Painlevé–Kuratowski cho tập nghiệm hữu hiệu của mô hình điều chỉnh đường huyết được mô tả bởi một bài toán điều khiển tối ưu đa mục tiêu. Mục đích của nghiên cứu là làm rõ tính ổn định của các chiến lược điều khiển insulin khi dữ liệu của mô hình có nhiễu nhỏ. Phương pháp được sử dụng dựa trên tính đo được đồng đều của tập điều khiển, điều kiện tăng trưởng của hàm vế phải phương trình trạng thái, dạng hội tụ tích phân địa phương của dữ liệu và các tính chất lồi suy rộng của hàm mục tiêu dưới dấu tích phân. Kết quả chính của bài báo là thiết lập tính compact, tính liên thông cung và sự hội tụ của tập chấp nhận được; từ đó đưa ra điều kiện đủ để tập nghiệm hữu hiệu của các bài toán nhiễu hội tụ Painlevé–Kuratowski đến tập nghiệm hữu hiệu của bài toán giới hạn. Kết quả thu được góp phần củng cố cơ sở toán học cho việc phân tích ổn định trong các mô hình điều chỉnh đường huyết.

Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng sinh protease và khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đến hoạt tính enzyme

Đinh Đinh Ngọc Bích, Trần Hữu Hậu, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn các dòng Bacillus spp. sinh protease từ nước thải sản xuất bánh mì tại thành phố Cần Thơ; đồng thời, việc khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH cũng đã được tiến hành. Kết quả phân lập được 18 dòng vi khuẩn, trong đó 16 dòng được xác định thuộc chi Bacillus dựa trên đặc điểm hình thái và sinh hóa. Tất cả các dòng đều có khả năng phân giải với đường kính từ 12,33 đến 17,10 mm và hoạt độ protease đạt 0,21 – 0,55 U/mL cao nhất ở dòng StNK1.1 là 0,55 U/mL và StCR3.3 là 0,52 U/mL. Nhiệt độ ảnh hưởng đến khả năng phân giải protein và hoạt tính protease, với giá trị cao nhất được ghi nhận trong khoảng 40 – 45°C. Dòng StCR3.3 đạt đường kính vòng phân giải (23,50 mm) và hoạt tính protease cao nhất (1,45 U/mL) tại 45°C. Hoạt tính enzyme giảm duy trì ở mức cao trong khoảng pH 6 – 8. Kết quả định danh bằng gen 16S rRNA xác định dòng StCR3.3 thuộc chi Bacillus, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sản xuất và xử lý nước thải giàu protein.

Phân đoạn ảnh cộng hưởng từ u não sử dụng thuật toán Res-UNet cải tiến

Lã Hoàng Quý, Phạm Toàn Định
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, một kiến trúc mạng học sâu Res-UNet cải tiến, tích hợp quá trình học phần dư, cơ chế chú ý và tích chập giãn đã được đề xuất nhằm nâng cao khả năng bảo toàn biên và biểu diễn các đặc trưng của ảnh. Mô hình đề xuất được huấn luyện và đánh giá trên bộ dữ liệu MRI gồm 3.929 ảnh. Kết quả thực nghiệm cho thấy phương pháp đề xuất đạt quả phân đoạn tốt hơn so với một số thuật toán khác bao gồm U-Net truyền thống, Fuzzy C-Means (FCM), Attention U-Net, UNet++, SegNet, Swin-UNet, TransUNet và nnUNet, với BF = 98,0%, SSIM = 99,2%, ACC = 99,7%, Dice coefficient = 86,6% và IoU = 76,6%. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đã giúp phân loại sự hiện diện của khối u dựa trên nhãn phân đoạn đạt độ chính xác 99,7% trên tập kiểm tra. Những kết quả này khẳng định hiệu quả của mô hình đề xuất và các ứng dụng trong phân tích ảnh y tế.

Kiểm định khi-bình phương Pearson cho mô hình hồi quy logistic có hiệp biến thiếu dữ liệu ngẫu nhiên và ứng dụng vào dữ liệu Titanic

Ngô Thảo Uyên, Dương Thị Tuyền, Trần Phước Lộc
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất kiểm định Khi-bình phương Pearson (PCS) cho mô hình hồi quy logistic khi hiệp biến bị thiếu dữ liệu ngẫu nhiên. Một thống kê kiểm định có trọng số (W-Pearson) được xây dựng dựa trên phương pháp ước lượng trọng số xác suất nghịch đảo bán tham số (SIPW) nhằm hiệu chỉnh sai lệch do dữ liệu thiếu và đánh giá độ phù hợp (GOF) của mô hình hiệu quả hơn so với phương pháp sử dụng dữ liệu đầy đủ (CC). Kết quả lý thuyết cho thấy thống kê kiểm định có phân phối tiệm cận chuẩn sau khi chuẩn hóa. Việc mô phỏng cho thấy W-Pearson kiểm soát tốt sai lầm loại I và có công suất cao hơn C-Pearson, đặc biệt khi tỉ lệ thiếu lớn hoặc mô hình bị sai lệch, đồng thời tiệm cận với kiểm định Pearson khi dữ liệu đầy đủ. Bên cạnh đó, việc ứng dụng trên bộ dữ liệu Titanic cho thấy phương pháp SIPW cải thiện hiệu quả ước lượng và độ phù hợp của mô hình.

Nhân giống in vitro cây bìm bịp (Clinacanthus nutans (Burm. F.) Lindau)

Nguyễn Văn Ây, Trần Nguyễn Phương Nguyên , Lê Thị Mỹ Hạnh, Trần Ngọc Quý
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định môi trường nhân giống in vitro cây bìm bịp phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu có giá trị. Nghiên cứu gồm ba nội dung chính: khảo sát ảnh hưởng của Benzyl adenine (BA) đến sự phát sinh chồi, đánh giá tác động của α-Naphthalene acetic acid (NAA) kết hợp than hoạt tính đến khả năng hình thành rễ và xác định giá thể thích hợp cho cây con ex vitro. Kết quả cho thấy môi trường MS bổ sung BA ở nồng độ 0,5 - 0,75 mg/L kết hợp NAA 0,05 mg/L cho hiệu quả nhân chồi cao, đạt 3,78 - 4,00 chồi/mẫu sau 8 tuần nuôi cấy. Trong giai đoạn tạo rễ, môi trường MS bổ sung NAA 0,5 mg/L kết hợp than hoạt tính 2 g/L cho tỷ lệ ra rễ đạt 100% sau 4 tuần. Cây con sau thuần dưỡng trong nhà lưới đạt tỷ lệ sống 93,33%, sinh trưởng tốt và thích nghi tốt với trong điều kiện đất + tro trấu (1:1). Về mặt lý thuyết, một chồi in vitro ban đầu sau một năm được nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô có thể tạo ra trung bình từ 5.200 đến 7.600 cây con.

Đặc điểm hình thái, giải phẫu và thành phần hóa học của cây Hải châu (Sesuvium portulacastrum (L.) L.) tại một số địa điểm ven biển Cà Mau

Phùng Thị Hằng, Nguyễn Thị Huyền Trân, Chung Thị Ánh Linh, Nguyễn Thị Tuyết Huệ, Trần Ngọc Hân, Lê Phước Lâm, Nguyễn Nguyền Trân, Nguyễn Võ Châu Ngân
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm hình thái, giải phẫu và thành phần hóa học của cây Hải châu (Sesuvium portulacastrum (L.)L.) tại một số điểm ven biển tỉnh Cà Mau. Mẫu được thu tại năm địa điểm và được đánh giá bằng các phương pháp hình thái học, giải phẫu thực vật, soi bột dược liệu và định tính hóa học. Kết quả cho thấy cây Hải châu thể hiện nhiều đặc điểm thích nghi với môi trường ven biển như thân và lá mọng nước, lớp cutin phát triển, mô mềm dự trữ nước lớn và hệ thống bó dẫn hoàn chỉnh. Kết quả soi bột dược liệu ghi nhận sự hiện diện của các cấu trúc vi học đặc trưng gồm hạt tinh bột, tinh thể calcium oxalate, khí khẩu và các dạng mạch dẫn. Việc phân tích định tính hóa học cho thấy sự hiện diện của các nhóm hợp chất sinh học như flavonoid, phenol, tannin, coumarin, tinh dầu và diterpenes. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu cho định hướng khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững cây Hải châu tại các vùng ven biển Việt Nam.

Ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng và môi trường nuôi cấy đến khả năng hòa tan lân của Enterobacter hormaechei GC1.3 phân lập từ đất rễ lúa hoang Gò Công – Đồng Tháp

Nguyễn Thị Hồng Xuyên, Tôn Nữ Thanh Nhàn, Phan Ngọc Như, Lê Thị Tuyết Cầm, Huỳnh Thị Như Huỳnh, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Ký Thiện, Đỗ Tấn Khang, Trần Thị Giang
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng và điều kiện nuôi cấy đến khả năng hòa tan lân của chủng Enterobacter hormaechei GC1.3 phân lập từ đất vùng rễ lúa hoang tại Gò Công, Đồng Tháp. Chủng vi khuẩn được nuôi cấy trên môi trường NBRIP và khảo sát ảnh hưởng của nồng độ phosphate vô cơ, nguồn carbon, nguồn nitrogen, sự kết hợp carbon-nitrogen, các dạng phosphate khó tan (FePO₄ và AlPO₄), nhiệt độ và điều kiện nuôi cấy. Kết quả cho thấy chủng GC1.3 đạt hiệu quả hòa tan lân cao nhất trong môi trường chứa 5 g/L Ca₃(PO₄)₂, 10 g/L glucose và 0,1 g/L (NH₄)₂SO₄. Tổ hợp glucose và (NH₄)₂SO₄ là điều kiện tối ưu cho hàm lượng lân hòa tan đạt 800,07 mg/L. Chủng có khả năng hòa tan FePO₄ hiệu quả hơn AlPO₄, với hàm lượng lân hòa tan cao nhất đạt 142,96 mg/L. Điều kiện nuôi lắc ở 25 - 30°C cho hiệu quả hòa tan lân cao nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy E. hormaechei GC1.3 có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất chế phẩm vi sinh nhằm tăng khả năng hấp thu lân của cây lúa, giảm sử dụng phân bón hóa học và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Nghiên cứu đa dạng di truyền các loài cá chốt thuộc họ Bagridae bằng dấu phân tử ISSR

Nguyễn Tuyết Nga, Nguyễn Phạm Anh Thi, Nguyễn Thị Pha
Tóm tắt | PDF
Trong những năm gần đây, nguồn lợi cá chốt tự nhiên đang có xu hướng suy giảm do khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường nước. Sự suy giảm quần thể có thể ảnh hưởng đến đa dạng di truyền của loài. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ đa dạng di truyền của các giống cá chốt bằng cách sử dụng dấu phân tử ISSR (Inter-simple sequence repeat). Tổng cộng có 30 mẫu cá chốt được sử dụng trong nghiên cứu, thu tại 3 tỉnh (An Giang, Cần Thơ và Tây Ninh). Trong số 14 mồi ISSR được đánh giá, 6 mồi được chọn để khuếch đại đa hình các đoạn DNA. Các mồi này cho kết quả tổng cộng 104 băng với kích thước từ 105 bp đến 1750 bp, hệ số PIC từ 0,26 đến 0,57. Kết quả phân tích sơ đồ phân nhóm dựa vào phương pháp UPGMA cho thấy các mẫu cá chốt có hệ số tương đồng khá cao từ 70% đến 94%.

Mô hình lãi đôi: Luật số lớn và moment bậc cao

Trịnh Hữu Nghiệm, Lâm Hoàng Chương
Tóm tắt | PDF
Bài báo này nghiên cứu tính chất tiệm cận của mô hình lãi đôi trong lý thuyết xác suất dưới điều kiện xác suất thắng tổng quát a nằm trong khoảng (0,1) . Trên cơ sở kết quả đã công bố về Định lý giới hạn trung tâm tại giá trị tới hạn a = 1/3, nghiên cứu này tập trung mở rộng khảo sát để thiết lập Luật số lớn cho trường hợp a khác 1/3. Đặc biệt, đóng góp khoa học cốt lõi của bài báo là việc xác định và chứng minh thành công hành vi giới hạn của dãy các moment bậc cao của quá trình. Các kết quả đạt được góp phần hoàn thiện bức tranh định lượng toàn diện về cấu trúc động lực và sự biến động thống kê của mô hình lãi đôi tổng quát.

Sàng lọc tá dược cho một số anthraquinone trong chế phẩm dùng ngoài da bằng thông số hòa tan Hansen và mô phỏng thấm liều hữu hạn

Võ Thành Khang, Dương Nhựt Phong, Nguyễn Trọng Tuân, Triệu Phú Hậu, Nguyễn Quốc Châu Thanh
Tóm tắt | PDF
Bài báo được thực hiện nhằm nghiên cứu in silico mô phỏng thấm qua da liều hữu hạn kết hợp với thông số hòa tan Hansen và phân tích tối ưu đa mục tiêu Pareto sàng lọc hệ tá dược cho một số anthraquinone ứng dụng cho các chế phẩm ngoài da. Kết quả cho thấy 5 hợp chất bao gồm: rubiadin có khả năng thấm qua da tốt nhất, morindone nổi bật về tốc độ khởi phát hấp thu, nordamnacanthal và damnacanthal có xu hướng phân bố sâu hơn vào da sống, trong khi lucidin kém thuận lợi nhất về thấm qua da nhưng lưu giữ mạnh ở lớp sừng. Trong 7.200 hệ tá dược, hệ poly(ethylene glycol)/poly(ethylene oxide): castor oil: dimethyl sulfoxide (60:20:20, w/w/w) tương hợp với da tốt nhất, hệ urea:benzyl benzoate:propylene carbonate (50:30:20, w/w/w) có mức tương hợp cao nhất với nhóm anthraquinone. Việc phân tích Pareto giúp xác định hệ cân bằng tương hợp với da và hoạt chất là poly(1-vinyl-2-pyrrolidone): benzyl benzoate: propylene carbonate (50:30:20, w/w/w). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định hướng tiền công thức cho việc lựa chọn hệ tá dược của anthraquinone trong chế phẩm dùng ngoài da.
Xem tất cả số báo